KINH TẾ
Cập nhật 23:46 | 05/06/2020 (GMT+7)
.

Xác định rõ ràng và hợp lý những trường hợp thu hồi đất nào được coi là có mục đích phát triển kinh tế - xã hội

16:28 | 23/11/2013
Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 tại Mục 3, Điều 54 có nêu rõ: nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân sử dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia công cộng và phát triển kinh tế - xã hội. Việc thu hồi phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo đúng quy định của pháp luật. Do vây, Luật Đất đai sửa đổi phải có nhiệm vụ thể hiện đầy đủ tinh thần và ý nghĩa quy định của Hiến pháp. Tại Chương VI của dự thảo luật, Ban soạn thảo đã đề ra nhiều quy định cụ thể cũng như các trường hợp được thu hồi đất, trình tự, thủ tục tiến hành thu hồi đất nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, song còn thiếu quy định như thế nào thu hồi trong trường hợp thật cần thiết và những trường hợp thu hồi đất nào được coi là có mục đích phát triển kinh tế - xã hội…

ĐBQH Lê Thị Tám (Nghệ An): Hạn chế việc thu hồi đất tràn lan, không có tiêu chí xác định dự án nào là dự án có quy mô lớn và quan trọng
 
Thứ nhất, về các trường hợp thu hồi đất, tại Khoản 3, Điều 54 của Hiến pháp (sửa đổi) đã quy định nhà nước thu hồi đất do tổ chức cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết vì mục đích quốc phòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia công cộng và phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, có thể hiểu có 3 trường hợp thu hồi đất được hiến định trong Hiến pháp đó là vì mục đích quốc phòng an ninh, vì lợi ích quốc gia công cộng và vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng tại Điều 16 của dự thảo Luật đất đai (sửa đổi), nếu thể hiện như ở Khoản 1 thì lại có thể hiểu rằng ngoài 3 trường hợp thu hồi đất đã được Hiến pháp quy định tại điểm a, luật còn quy định thêm 2 trường hợp nữa là thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai tại điểm b và thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật tự nguyện có nguy cơ đe dọa tính mạng con người tại điểm c. Theo tôi 2 trường hợp trên được liệt kê ở điểm b và điểm c, Điều 16 có thể điều chỉnh vào trường hợp thu hồi đất vì lợi ích quốc gia công cộng, phát triển kinh tế - xã hội, tránh cách hiểu khác nhau về tính thống nhất giữa Hiến pháp và Luật Đất đai. Nếu sửa Điều 16 theo hướng đó tôi cũng đề nghị UBTVQH cho rà soát lại các Điều 61, 62, 63, 64 và 65 cho thống nhất bởi vì đây là những điều luật cụ thể hóa các trường hợp thu hồi đất.

Đối với Điều 62 của dự thảo luật, điểm e và điểm g là 2 điểm quy định cụ thể các loại hình dự án vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội thuộc diện thu hồi đất gồm: khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ chính thức ODA, dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, cụm công nghiệp, dự án khai thác khoáng sản, khu chế biến nông, lâm, thủy, hải sản tập trung. Tôi thấy rằng nếu luật chỉ quy định trong phạm vi áp dụng như vậy thì trong thực tế đối với loại hình dự án liên hoàn, quy mô lớn bao gồm chuỗi chăn nuôi, trồng trọt, sản xuất, chế biến sản phẩm nông nghiệp áp dụng công nghệ cao, có ý nghĩa kinh tế - xã hội lớn, mang tính chất là dự án động lực có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đòi hỏi phải có đến hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn ha đất mới đủ điều kiện để thực hiện dự án, mà đất lại không tập trung, không liền khoảnh, không thể đưa vào khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu kinh tế hay khu chế biến nông, lâm, thủy, hải sản tập trung vì dự án có cả chăn nuôi, trồng trọt và chế biến. Những loại dự án như vậy nếu không được đưa vào diện thu hồi đất thì trên thực tế liệu có nhà đầu tư hay tổ chức kinh tế nào có thể đứng ra để thỏa thuận với hàng chục ngàn hộ dân trong vùng để có đất sử dụng vào dự án hay không? Mặt khác, liệu như vậy thì giữa quan điểm và chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với các dự án có tính chất động lực, chuyển đổi mô hình tăng trưởng nhằm thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã nhất quán hay chưa? Vai trò, trách nhiệm của Nhà nước đối với người dân và với nhà đầu tư như thế theo tôi là chưa đầy đủ. Chính vì vậy, tôi kiến nghị bổ sung loại hình dự án này vào điểm e hoặc điểm g của Điều 62 dự thảo luật. Ngoài ra, cũng tại Điều 62 dự thảo luật tôi thấy rất cần phải có một khoản nhằm xác định rõ tiêu chí cho loại dự án được gọi là dự án kinh tế - xã hội có quy mô lớn và quan trọng, để khi áp dụng trong thực tiễn không bị vướng mắc và không mâu thuẫn với tiếp thu, giải trình của UBTVQH rằng: "Nhà nước chỉ thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội có quy mô lớn và quan trọng của đất nước". Như vậy, theo tôi cũng sẽ hạn chế được việc thu hồi đất tràn lan, không có tiêu chí xác định dự án nào là dự án có quy mô lớn và quan trọng, dự án nào là dự án nhỏ không phải thu hồi đất.
  
ĐBQH Nguyễn Bắc Việt (Ninh Thuận): Chỉ nên thu hồi với các trường hợp vi phạm luật trong sử dụng đất
 
Có thể nói, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã quán triệt quan điểm bản chất của chế độ Nhà nước của dân, do dân, vì dân, thấm dần quan điểm quần chúng, công tác dân vận; thấy được vai trò, vấn đề đất đai trong tiến trình lịch sử cách mạnh Việt Nam. Nhưng theo tôi trong dự thảo luật lần này thể hiện quan điểm này vẫn chưa được rõ, nhất là đối với vấn đề thu hồi đất và việc áp giá đền bù bồi thường về đất? Vì sao lại như vậy? Bởi vì đối với vấn đề thu hồi đất, việc sử dụng cụm từ "thu hồi đất" trong dự thảo là không thận trọng, không thể hiện và quán triệt quan điểm ở trên, vì sao? Bởi vì để giành chính quyền, ngay từ năm 1930 Đảng đã nêu khẩu hiệu "đưa ruộng đất cho dân cày". Cách mạng Nga cũng đưa ra khẩu hiệu xuyên suốt là "bánh mỳ và ruộng đất". Như vậy, để tuyên truyền và bảo vệ xây dựng lực lượng ta đã nêu khẩu hiệu chiến lược này nhưng bây giờ cách mạng thành công, bây giờ để xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong luật lại nói đến thu hồi đất theo tôi nên cân nhắc sử dụng cụm từ này.

Thứ hai, lý do ở đây theo tôi thu hồi đất chỉ thu hồi với các trường hợp vi phạm luật trong sử dụng đất, còn các trường hợp tự thực hiện giao đất, hiến đất và đa phần sau khi Nhà nước có quyết định thay đổi quyền sử dụng đất thì đều chấp hành nghiêm túc. Như vậy, Nhà nước nhận đất chứ không phải là thu hồi đất, Nhà nước nhận đất của người tự nguyên giao đất, người hiến đất nhưng bây giờ lại nói thu hồi thì e không phải. Chỉ thu hồi đối với các trường hợp vi phạm pháp luật nhưng đã thể hiện trong dự thảo luật ở Điều 64. Từ vấn đề đặt ra như vậy về trong luật ngay trong phần giải thích từ ngữ ở Khoản 10 của Điều 3 theo tôi là không thể đồng thu hồi quyền sử dụng đất với thu hồi đất. Hai cụm từ này với ý nghĩa khác nhau hoàn toàn, không thể mở ngoặc như vậy được ở Khoản 10 của Điều 3. Trong luật theo tôi trong các điều, các chương và đặc biệt là Chương VI về thu hồi đất, trưng dụng đất, bồi thường phải đổi bằng cụm từ "thay đổi quyền sử dụng đất", thu hồi đất chỉ phù hợp đối với các trường hợp vi phạm pháp luật.

Từ lý giải này theo tôi trong dự thảo Hiến pháp ở Điều 54 và trong Luật Đất đai (sửa đổi) lần này nên viết ở Điều 54 của Hiến pháp là "Nhà nước thay đổi quyền sử dụng đất của cá nhân, tổ chức trong trường hợp cần thiết vì lợi ích quốc gia và lợi ích của nhân dân", ta quên mất dân, theo tôi phải bổ sung thêm cụm từ "lợi ích của nhân dân", ta chưa có khẩu hiệu chiến lược thì bây giờ ngay trong Hiến pháp và trong luật cần phải nêu lợi ích quốc gia và lợi ích nhân dân là đủ.

Một vấn đề nữa là nguyên tắc bồi thường về đất, trong dự thảo lần này chưa thể hiện rõ tư tưởng, quan điểm quần chúng, công tác dân vận của Đảng. Bác Hồ căn dặn chúng ta là "việc gì có lợi cho dân thì làm, dân vận khéo thì việc gì cũng xong", làm sao đưa tư tưởng của Bác vào trong luật này ở nguyên tắc bồi thường về đất này nên bổ sung, đó là phương án nào có lợi cho dân nhất thì thực hiện. Về áp giá đền bù, nếu một ngôi nhà kế cận là 1 đường hay 2 đường về nguyên tắc áp giá thế nào? Dân muốn hưởng ở mức đường có giá cao. Bây giờ việc gì có lợi cho dân thì thực hiện theo nguyên tắc đó và căn cứ theo pháp luật. Trong nguyên tắc này cần phải bổ sung, đó là "Mặt trận, hội, đoàn thể tham gia giám sát việc áp giá đền bù". Thực tế, có tiêu cực ở đây, nếu xử lý và bổ sung sẽ giảm được đơn thư khiếu kiện của dân và dân tin, sẽ được lòng dân.
 
ĐBQH Phương Thị Thanh (Bắc Kạn): Cần có tiêu chí cụ thể đối với các trường hợp thu hồi đất theo cơ chế hành chính
 
Thứ nhất, đề nghị Ban soạn thảo xem xét về thẩm quyền phê duyệt, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Khoản 3, Điều 45 điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; tại Khoản 4 Điều 46 vì hiện nay một số địa phương đang thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường và dự thảo Hiến pháp (sửa đổi) quy định chế định chính quyền địa phương chưa cụ thể, nhất là tổ chức HĐND, do vậy nếu quy định như dự thảo luật, UBND cấp huyện trình HĐND cùng cấp thông qua quy hoạch sử dụng đất cấp huyện trước khi trình UBND cấp tỉnh phê duyệt là khó thực hiện đối với những nơi không tổ chức HĐND cấp huyện.

Thứ hai, về các trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phục vụ cho lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế - xã hội quy định tại Điều 62 theo tôi là quá rộng, chưa cụ thể, chưa thể hiện được quan điểm trong dự thảo Hiến pháp (sửa đổi) là chỉ thu hồi đất trong các trường hợp thật sự cần thiết để sử dụng vào mục đích phục vụ quốc gia, công cộng và phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng các trường hợp thu hồi đất được quy định tại điểm g, Khoản 1, Điều 62 là dàn trải nhưng đối với các dự án khai thác khoáng sản thì có loại khoáng sản là kim loại, có loại là khoáng sản thông thường với trữ lượng, quy mô khác nhau và như vậy có nhất thiết Nhà nước đều thực hiện thủ tục thu hồi đất theo cơ chế hành chính đối với các trường hợp như nêu ở phần trên không? Theo tôi cần có tiêu chí cụ thể đối với các trường hợp thu hồi đất theo cơ chế hành chính được quy định tại điểm g, Khoản 1, Điều 62 còn lại các trường hợp khác đề nghị được chuyển sang cơ chế thu hồi đất theo quy định tại Điều 73 của dự thảo luật.

Thứ ba, quy định quản lý sử dụng đất đã được thu hồi tại điểm a, Khoản 2, Điều 68 quy định đất đã được thu hồi theo quy định tại Điều 61, 62 giao cho chủ đầu tư hoặc tổ chức phát triển quỹ đất để quản lý, đấu giá quyền sử dụng đất, nhưng đối với Điều 61 và một số trường hợp tại Điều 62 thì nhóm đất thuộc loại thu hồi trong các trường hợp trên sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia không thực hiện đấu giá. Nếu giao cho tổ chức phát triển quỹ đất để thực hiện đấu giá là không đảm bảo quy định theo pháp luật. Vì vậy, trường hợp này cần sửa lại là "hoặc giao cho trung tâm phát triển quỹ đất quản lý theo quy định của pháp luật".

Thứ tư, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc việc giao thẩm quyền quyết định trưng dụng quyền sử dụng đất cho một số chức danh quy định tại Khoản 3, Điều 72. Vì theo quy định tại Khoản 3, Điều 13 về quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai quy định chỉ Nhà nước mới thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai thông qua quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất. Như vậy, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc để phù hợp với quy định tại Khoản 3, Điều 13 đối với các trường hợp quy định tại Khoản 3, Điều 72.
 
ĐBQH Huỳnh Nghĩa (Đà Nẵng): Xác định rõ ràng và hợp lý những trường hợp thu hồi đất nào được coi là có mục đích phát triển kinh tế - xã hội

 
Về các trường hợp thu hồi đất, nước ta đang trong quá trình vận động phát triển, cơ sở vật chất ban đầu còn quá khiêm tốn, rất cần các dự án phát triển kinh tế - xã hội để làm giàu cho đất nước, sớm hòa nhập cộng đồng quốc tế. Do đó, tôi cho rằng việc quy định thu hồi đất phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội là đúng đắn và cần thiết. Vấn đề quan trọng là phải xác định rõ ràng và hợp lý những trường hợp thu hồi đất nào được coi là có mục đích phát triển kinh tế - xã hội để tránh bị lạm dụng nhằm phục vụ lợi ích riêng, lợi ích nhóm. Để làm được điều này tôi đề nghị cần quy định cụ thể, chi tiết hơn các điểm e, g Khoản 1, Điều 62 vì ở đây có nhiều trường hợp rất dễ bị lợi dụng khi thi hành luật như thu hồi đất làm khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới... Tôi tán thành chủ trương thu hồi đất là do vi phạm pháp luật đất đai tại Khoản 1 Điều 64. Quy định này là rất hợp lý, nhằm bảo đảm kỷ cương trong việc sử dụng đất, tránh lãng phí tài nguyên đất. Tuy nhiên, cần lưu ý trong các dự thảo sửa đổi Hiến pháp hiện nay không quy định việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai do đó tôi đề nghị cần phải rà soát, giải trình thêm về vấn đề này nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa Hiến pháp và Luật Đất đai.

Về bồi thường hỗ trợ tái định cư, tôi tán thành quy định tại Khoản 1, Điều 82 không bồi thường về đất trong trường hợp bị Nhà nước thu hồi do vi phạm pháp luật về đất đai, quy định này nhằm nâng cao ý thức của công dân, tổ chức; bảo đảm việc sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm, hạn chế tình trạng chạy dự án vì mục đích đầu cơ. Tuy nhiên, việc không bồi thường đối với những trường hợp thu hồi đất trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng của con người tại điểm d, Khoản 1, Điều 65 cần được cân nhắc làm rõ thêm vì có thể người sử dụng đất không có lỗi và họ cũng chỉ là nạn nhân của môi trường bị ô nhiễm, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ người sử dụng đất trong trường hợp này.

Về giá đất và tổ chức tư vấn định giá đất, định giá đất là vấn đề cực kỳ nhạy cảm, phức tạp trực tiếp liên quan đến lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và hàng triệu người dân. Đây cũng là nguyên nhân cơ bản làm phát sinh những vụ khiếu kiện kéo dài, dai dẳng, gay gắt và vô cùng phức tạp. Điểm e, Khoản 1, Điều 112 đề ra nguyên tắc giá đất do Nhà nước quy định phải phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường vẫn chưa bảo đảm tính rõ ràng và minh bạch vì giá đất trên thị trường không ổn định, luôn thay đổi, thậm chí có thời điểm giá đất thay đổi từng ngày. Do đó việc xác định thế nào là phù hợp với giá thị trường hoàn toàn mang tính chủ quan, khái niệm giá đất phổ biến cũng rất mơ hồ và khó xác định đâu là giá chuẩn… Chính vì vậy, quy định về tư vấn định giá đất tại Điều 115, 116 là rất cần thiết. Tuy nhiên, cần khuyến khích việc sử dụng rộng rãi các tổ chức dịch vụ có chức năng tư vấn, định giá đất tham gia vào hoạt động xác định giá, không nên quy định giá đất có tư vấn xác định trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu tại Khoản 4, Điều 115 chỉ có giá trị tham khảo. Có như vậy thì việc xác định giá đất mới có căn cứ khoa học, khách quan, trung thực, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Tôi đề nghị cần nói rõ khái niệm giá đất thị trường có biến động lớn tại Khoản 1, Điều 113. Cần phải quy định ngay trong luật trường hợp giá đất trên thị trường biến động bao nhiêu phần trăm thì được phép điều chỉnh khung giá đất nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch...

Minh Vân lược ghi
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang