KINH TẾ
Cập nhật 23:46 | 05/06/2020 (GMT+7)
.

Để tránh thu hồi đất tràn lan, nên quy định hạn mức đất được phép thu hồi theo từng cấp

14:35 | 13/09/2013
Cho ý kiến về dự án Luật Đất đai (sửa đổi), các Ủy viên UBTVQH cho rằng, dự thảo luật đã đưa ra phương án xử lý đối với nhiều vấn đề hóc búa mà thực tế đang đặt ra trong lĩnh vực đất đai. Dự thảo luật cũng đã bổ sung một số quy định nhằm điều tiết lợi nhuận thu được sau khi đấu giá diện tích đất đã thu hồi cho người dân; quy định về thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất đối với mỗi loại dự án. Tuy nhiên, đây là những vấn đề rất phức tạp nên cần quy định cụ thể và chặt chẽ hơn…

Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu: Quy định rõ những loại dự án có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội
 
Điều 52 nói về căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, nhưng chưa làm rõ được giữa căn cứ và điều kiện của việc giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất. Trong Khoản 1 nói căn cứ giao đất ở đây là "kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt". Hai là "nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất". Tôi đặt vấn đề có phải chỉ có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện không? Bây giờ kế hoạch sử dụng đất của tỉnh thế nào, có phải là căn cứ để giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất không? Ta không nói ở đâu cả, Điều 52 của dự thảo không có, không biết chỗ này như thế nào. Khoản 3, Điều 52 không phải là căn cứ mà là điều kiện. Chúng ta nói là "Để giao đất theo Khoản 1, Khoản 2 phải có một trong các văn bản sau đây: a. Nghị quyết Quốc hội; b. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; c. Văn bản thỏa thuận của Thủ tướng Chính phủ; d. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân." Tôi hiểu là khi có nghị quyết của QH quyết định chủ trương đầu tư đối với công trình, dự án thuộc thẩm quyền quyết định của QH thì đây cũng là căn cứ, là cơ sở pháp lý để thu hồi đất, giao đất và chuyển mục đích sử dụng đất, không phải là văn bản của cấp huyện mà có thỏa thuận bằng văn bản của cơ quan này. Chỗ này đề nghị rà soát lại, viết thế này rất lộn xộn và không hiểu được. Ngay cả Điểm b, Điểm c cũng như vậy. Ví dụ tôi vừa rồi đi công tác Nha Trang, gặp một số anh em người ta nói rằng bây giờ chúng tôi làm ở công ty truyền tải điện, muốn đóng một cái cột điện để dẫn đường dây phải chờ 4 -5 - 6 tháng và có thể hàng năm vì theo quy định hiện hành phải có chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ bởi vì đó là đất lúa mà đụng đến đất lúa 1m2 là phải chờ ý kiến của Thủ tướng. Như thế vô cùng bất hợp lý, không thực tế chút nào bởi vì chúng tôi đã thoả thuận với dân, với địa phương rồi, chỉ khoảng 3-5 m2 để làm một cái cột, đền bù tất cả rồi nhưng phải chờ. Chỗ này để chuyển mục đích sử dụng đất nếu ta không đi từ thực tế như vậy thì không xử lý được những vấn đề bất cập của địa phương, của cơ quan, tổ chức. Đây là một vấn đề tôi đề nghị phải làm thật rõ trong dự án luật.

Thứ hai là vấn đề thu hồi đất, đây là vấn đề cực kỳ lớn mà ĐBQH hội cũng như cử tri, nhân dân cả nước quan tâm. Khi trình dự án luật lần thứ nhất không có thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Khi lấy ý kiến nhân dân và nhiều chuyên gia nói không nên quy định vấn đề thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì khi thu hồi đất để thực hiện các dự án vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng đã bao gồm cả dự án phá triển kinh tế - xã hội. Lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hiểu ở đây là những công trình lớn về giao thông, thủy lợi, điện lực... như làm sân bay, bến cảng, đường cao tốc - đấy là những dự án quốc gia, nhưng dự án quốc gia này cũng là những dự án kinh tế - xã hội. Vấn đề tôi nghĩ là nên hạn chế và quy định rõ những loại dự án có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội thuộc với thẩm quyền như ta nói ở đây là QH quyết định các dự án công trình, Thủ tướng ký chủ trương và có thể một số dự án nào đó thoả thuận giữa nhà đầu tư với dân khi thu hồi đất.

 
Nguồn: danviet.vn

Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai: Rất khó để phân định cái nào là lợi ích quốc gia, cái nào là lợi ích công cộng và cái nào là kinh tế - xã hội
 
Ở đây đang tồn tại Điều 62 quy định mục đích, Điều 63 quy định thẩm quyền, nhưng hai vấn đề này gần như trùng lắp. Quy định tại Điều 63, những vấn đề QH quyết định, Thủ tướng Chính phủ quyết định, HĐND quyết định thì chắc chắn những dự án kinh tế - xã hội này có gắn với lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia. Theo tôi có thể nghiên cứu tiếp tục lồng ghép hai điều này thành một điều, vừa quy định mục đích, vừa quy định thẩm quyền, có lẽ sẽ thỏa mãn hơn. Ở 2 điều này nói chung rất khó để phân định cái nào là lợi ích quốc gia, cái nào là lợi ích công cộng và cái nào là kinh tế - xã hội mà kinh tế - xã hội “khoanh” lại rất chặt. Tôi rất đồng tình với quan điểm là khoanh vùng lại chặt chứ không để tràn lan, còn kinh tế - xã hội còn lại cứ theo thỏa thuận. Nhưng Điều 62, 63 xử lý như vậy sẽ bị “vênh”.

Thứ hai là Điều 84, 85 hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, tại Khoản 2 có hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm, hỗ trợ tái định cư và có khoản hỗ trợ khác. Tôi hiểu là khoản hỗ trợ này hơi du di, tức là quá trình thực tiễn nó còn phát sinh ra các vấn đề nhưng tôi thấy rằng thực tiễn bao nhiêu năm thực hiện Luật Đất đai thì khoản hỗ trợ gì cũng rõ ràng rồi, còn loại gì nữa thì nên quy định trong luật làm cơ sở để Chính phủ hướng dẫn cụ thể để tạo sự minh bạch, công khai, tránh sự tuỳ tiện, lạm dụng trong quá trình thực hiện.

Tôi có một băn khoăn là đối với những quy định trong luật về vấn đề hỗ trợ liên quan đến chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm, thực ra cũng không có gì để phản biện. Nhưng trên thực tiễn diễn ra hiện nay thì đây loại hỗ trợ ít được quan tâm và ít hiệu quả nhất. Có lẽ quan tâm nhiều nhất vẫn là bồi thường cho tôi miếng đất như thế nào? Bồi thường cho tôi tiền nếu không có đất như thế nào? Bồi thường cho tôi tái định cư như thế nào? Có lẽ kiện cáo hay tranh chấp cũng diễn ra xung quanh vấn đề này. Còn hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ để đào tạo nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm cũng không có kiện cáo. Thực ra có hiệu quả hay không hiệu quả cũng kệ. Học nghề nào đó tạm bợ, học cho có hoặc không học không ai theo dõi, tìm kiếm việc làm, không ai quan tâm sau đó cuộc sống như thế nào, đặc biệt là những người sống không vì đất mà sống bằng dịch vụ, bằng những nghề kinh doanh. Đây có lẽ là điểm còn rất mắc ở góc độ xã hội.
 
Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính và Ngân sách Phùng Quốc Hiển: Phải tính đến lợi ích của cả Nhà nước, người dân và doanh nghiệp
 
Vấn đề thứ nhất là thu hồi đất, tôi đồng tình với phương án là phải thu hồi đất để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, để tránh việc thu hồi đất một cách tràn lan, có lẽ trong luật nên quy định những hạn mức đất được phép thu hồi theo từng cấp. Ví dụ như QH quyết định việc thu hồi đất đến mức nào, Chính phủ quyết định thu hồi đất đến mức nào và HĐND quyết định thu hồi đất đến mức nào. Trong này quy định có 3 cấp, nhưng vẫn nói Chính phủ quy định chi tiết. Theo tôi nếu cụ thể hơn được thì sẽ rõ ràng hơn, hạn chế thu hồi đất một cách tràn lan. Luật Đất đai trước có giai đoạn đã quy định khi thu hồi đất đến mức nào thì do Thủ tướng Chính phủ quyết định, nhất là đối với đất nông nghiệp, đất trồng lúa thì quyết định của Thủ tướng rất ngặt nghèo. Tôi nhớ chỉ 3 - 5 ha là phải Thủ tướng Chính phủ quy định. Có giai đoạn rất lỏng, như khóa trước chúng tôi nói tại sao việc thu hồi đất rừng thì hạn chế và quy định QH quyết định 200 - 300 ha, trong khi đó đất lúa thì lại quyết định theo dự án, có dự án quyết định thu hồi đến hàng nghìn ha, có dự án khu công nghiệp thu hồi đến 1.500 ha. Theo tôi cần thiết quy định QH quyết định đến mức nào và giao cho Thủ tướng Chính phủ quyết định thu hồi đến mức nào, HĐND đến mức nào thôi. Nếu quy định như thế này tôi sợ sẽ chung chung. Một điều nữa là giao cho Chính phủ quy định chi tiết, tôi đề nghị cần cụ thể hơn để thể hiện quyền định đoạt đối với đất đai đối với các cấp chính quyền từ Trung ương cho đến địa phương.

Tôi đồng tình với lập luận là đối với một diện tích đất bình thường nhưng khi đã có đầu tư cơ sở hạ tầng thì giá lên, thậm chí đưa vào quy hoạch thôi thì giá đã lên rồi. Khi thu hồi đất với nguyên tắc giá đất khi sử dụng trước khi thu hồi ở giá nào, loại nào thì thu hồi theo giá đó, tôi đồng ý. Việc chênh lệch lên nhờ việc quy hoạch, nhờ đầu tư cơ sở hạ tầng thì việc đó Nhà nước định đoạt. Tuy nhiên, việc định đoạt và Nhà nước điều tiết thì điều tiết như thế nào? Tôi đồng tình theo hướng việc đó do Nhà nước định đoạt nhưng cũng có thể cần phải tính đến yếu tố có thể điều tiết cho cả người dân. Ví dụ, khi bình thường đất đó khoảng 300 ngàn/m2, nhưng đến lúc đầu tư cơ sở hạ tầng có thể lên tới 10 triệu đồng/m2. Cũng cần tính tới yếu tố là trừ đi phần giá trị phải đầu tư, Nhà nước phải bỏ ra để đầu tư cơ sở hạ tầng, phần chênh lệch Nhà nước sẽ điều tiết, Nhà nước có thể tính tới một tỷ lệ nào đó để hỗ trợ lại cho người dân. Như vậy tôi nghĩ sẽ thỏa đáng hơn và người dân dễ chấp nhận hơn là thu tất cả về cho ngân sách. Còn đối với đất không phải do nhà nước đầu tư mà do doanh nghiệp đầu tư cũng cần có sự điều tiết, phân chia như thế nào để bảo đảm lợi ích của nhà nước, của người dân và doanh nghiệp. Không nên quên lợi ích của người dân nhưng nếu không tạo điều kiện cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp không đầu tư. Phải tính lợi ích của cả ba: Nhà nước, người dân và doanh nghiệp, như vậy mới thỏa đáng và luật mới giải quyết được những khúc mắc khi xử lý những vấn đề tranh chấp về đất đai.
 
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý: Chúng ta hy vọng rất nhiều là vấn đề thu hồi đất cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội sẽ được giải quyết cụ thể trong luật…
 
Một trong những nội dung sẽ nhận được sự quan tâm đặc biệt của QH và nhân dân đó là vấn đề thu hồi đất. Khi xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp thì việc thu hồi đất được thảo luận rất nhiều, ý kiến rất khác nhau, trong dự thảo Hiến pháp đến giai đoạn này, vấn đề này đã được giải quyết ở mức độ nhà nước thu hồi đất giao cho những người được giao sử dụng đất trong trường hợp cần thiết vì mục đích quốc phòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Tôi thấy trong này có lập luận về các dự án phát triển kinh tế - xã hội, tức là chấp nhận có thu hồi đất cho phát triển kinh tế - xã hội, tất nhiên trong luật nói là theo quy định của luật, ở đây là Luật Đất đai. Như vậy, chúng ta hy vọng rất nhiều là vấn đề này sẽ được giải quyết cụ thể ở Luật Đất đai. Tôi thấy ở các Điều 61, 62, 63 hiện nay đã giải quyết một bước cơ bản vấn đề đó. Tôi đề nghị rà soát lại cho chính xác và thực sự để phục vụ được vấn đề thu hồi đất vì mục đích các dự án phát triển kinh tế - xã hội.

Khái niệm phát triển kinh tế, thực hiện các dự án và công trình, tôi đề nghị xem lại dự án công trình phát triển kinh tế - xã hội có khác gì với khái niệm dự án phát triển kinh tế - xã hội như Nghị quyết Trung ương nêu ra không. Trong luật hiện nay quy định thêm dự án công trình. Thứ hai, Điều 61 quy định vì mục đích quốc phòng, an ninh. Điều 62 quy định thu hồi đất để sử dụng vào mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Điều 63 quy định để thực hiện các dự án công trình phát triển kinh tế - xã hội. Tôi đề nghị đặc biệt quan tâm rà soát lại làm sao cho rõ. Hai cái này là một, bây giờ nhiều người cho rằng thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội cũng trùng hợp với mục đích quốc gia và mục đích công cộng. Do đó nhiệm vụ trong luật này là phải phân biệt được 2 mục đích đó. Bây giờ rà soát lại thì Điều 62 quy định các trường hợp: trường hợp thứ nhất là để thực hiện các dự án công trình quan trọng quốc gia do QH quyết định chủ trương đầu tư; thứ hai là các dự án ODA; thứ ba là xây dựng các cơ quan trụ sở các công trình của Nhà nước; thứ tư để phát triển hạ tầng; thứ năm là để phát triển văn hóa, xã hội, danh lam thắng cảnh. Như vậy, chúng ta có khái niệm, mục đích phát triển vì lợi ích công cộng và lợi ích quốc gia. Ở Điều 63 chỉ đi sâu vào thẩm quyền để phê duyệt. Như vậy, phân biệt giữa thực hiện các dự án và công trình phát triển kinh tế - xã hội với vì lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia không rõ ràng, có nhiều cái trùng hợp, 2 bên hầu như khớp nhau. Ngay trường hợp đầu tiên là để thực hiện các dự án công trình phát triển kinh tế - xã hội quan trọng quốc gia do QH quyết định chủ trương đầu tư thì 2 điều đều như thế cả, ở Điểm a đều như thế cả thì làm sao phân biệt được. Điểm b là do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư và điểm thứ ba do Hội đồng nhân dân quyết định. Điều 63 thực tế hiện nay là trên cơ sở Điều 62 và chỉ có thẩm quyền khác nhau. Do đó tôi đề nghị cần phải gia công thêm hai điều này, nếu không thì rất khó lập luận, rất khó giải thích để làm sao bảo vệ được việc thu hồi đất cho mục đích thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội. 

Minh Vân lược ghi
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang