XÃ HỘI
Cập nhật 19:40 | 02/06/2020 (GMT+7)
.
Hạn mặn bủa vây đồng bằng sông Cửu Long:

Bài 4: Nước mặn, nước lợ cũng là tài nguyên

17:39 | 29/03/2020
Theo Thứ trưởng Bộ NN – PTNT NGUYỄN HOÀNG HIỆP, từ việc sống chung với lũ đến sống chung với hạn mặn, nếu dựa theo nguyên tắc thuận thiên, thích nghi có kiểm soát thì khái niệm về xâm nhập mặn cũng cần được xem lại. Một số công trình thủy lợi cần tính toán lại để khống chế ranh nước mặn - ngọt - lợ chứ không đơn thuần là ngăn mặn, giữ ngọt.
 >> Bài cuối: “Suy nghĩ nghiêm túc về Luật Đồng bằng” 

>> Bài 3: Cần có quy hoạch chiến lược về nguồn nước

>> Bài 2: Buộc phải sống chung

>> Bài 1: Mặn cao không sợ bằng mặn dài

Thiệt hại 10% so với năm 2016

- Hạn hán, xâm nhập mặn năm nay được đánh giá là khốc liệt hơn năm 2016, vậy thiệt hại năm nay có lớn hơn không thưa ông?

- Theo thống kê, hạn hán, xâm nhập mặn năm 2015-2016 ở đồng bằng sông Cửu Long đã gây thiệt hại gần 1 triệu tấn lúa, 70.000 ha cây ăn trái bị ảnh hưởng, không khôi phục lại được. Có thời điểm có đến 500.000 hộ dân thiếu nước sinh hoạt và lần đầu tiên ngành nông nghiệp tăng trưởng âm.

Còn hạn hán, xâm nhập mặn năm 2019 - 2020 đến sớm hơn, bắt đầu từ xuất hiện từ cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 2019 thay vì vào tháng 1 hàng năm. Ngay từ tháng 12.2019, có những nơi xâm nhập mặn đã vào sâu tới 70km, như ở Bến Tre, Tiền Giang, một phần của Sóc Trăng và Bạc Liêu. Việc này Bộ NN – PTNT đã có dự báo sớm và đúng. Từ tháng 9.2019, khi đồng bằng sông Cửu Long đang có lũ, Bộ đã tham mưu với Thủ tướng tổ chức hội nghị tại Tiền Giang để thảo luận về tình hình hạn hán, xâm nhập mặn sẽ xảy ra trong năm 2020.

Nhận định trước những khó khăn, Bộ NN-PTNT đã chỉ đạo các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long đẩy sớm vụ Đông Xuân hơn 1 tháng, có nơi đẩy sớm hơn 1,5 tháng nên khi có nước mặn, lúa bắt đầu trỗ bông, không ảnh hưởng đến sản xuất. Thực tế, thiệt hại lúa Đông Xuân thấp hơn rất nhiều so với năm 2016, chỉ bằng 1,2% tổng diện tích gieo trồng, bằng khoảng 10% so với năm 2016. Thậm chí, lúa vụ Đông Xuân năm nay còn được mùa, năng suất cao bình quân 7 tấn/ha, cao hơn so với trung bình nhiều năm gần đây.

Mặt khác, do người dân đã có kinh nghiệm về ứng phó với hạn mặn trong năm 2015 – 2016 nên khi được Bộ NN-PTNT cảnh báo sớm, người dân chủ động ứng phó, chủ động các biện pháp tích nước, trữ nước và cân đối nước cho sinh hoạt và cây ăn trái. Theo tính toán ban đầu, 89.000 ha cây ăn trái trên toàn vùng có thể sẽ bị ảnh hưởng bởi hạn hán, xâm nhập mặn nhưng đến thời điểm này, gần như chưa có thiệt hại. Một số cây ăn trái có giá trị kinh tế cao nhưng “khó tính” như cây sầu riêng buộc các nhà vườn dùng biện pháp tích nước riêng, giá thành sản xuất cao hơn. Hay như huyện Chợ Lách (Bến Tre), chuyên về sản xuất cây giống cũng cần dùng biện pháp tích, trữ nước ngọt, đòi hỏi chi phí phải cao hơn.

- Cụ thể, Bộ NN-PTNT đã có những chỉ đạo ứng phó như thế nào khi dự báo được sớm tình hình hạn, mặn năm nay, thưa ông?

- Việc dự báo sớm rất quan trọng vì sẽ tạo được sự chủ động trong ứng phó. Đã có sự vào cuộc rất đồng bộ từ Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là vai trò “chủ công” của Bộ NN-PTNN. Một số công trình đầu tư xây dựng của Bộ, của địa phương sớm được đẩy nhanh và vượt tiến độ đưa vào sử dụng sớm hơn để có tác dụng trữ ngọt, kiểm soát mặn. Hầu như địa phương nào cũng đắp nhiều đập tạm (hồ) để chứa nước ngọt. Kiên Giang có 197 đập; Bạc Liêu có hơn 100 đập... Đây là giải pháp quan trọng, để cho đến thời điểm này các địa phương cơ bản có nước sinh hoạt, sản xuất và nước tưới cho cây công nghiệp và cho cây lâu năm.


Thứ trưởng Bộ NN – PTNN Nguyễn Hoàng Hiệp kiểm tra hạn mặn tỉnh Tiền Giang

Sau hạn mặn năm 2015-2016, Bộ NN-PTNT đã đầu tư 11 công trình lớn điều tiết mặn ngọt ở đồng bằng sông Cửu Long. Cho đến nay, 5/11 công trình của Bộ đưa vào vận hành sớm đã giải quyết được 300 nghìn ha, đây là con số không hề nhỏ. Trong đó, công trình cống Ninh Quới hoàn thành trước tiến độ 14 tháng đã đưa vào sử dụng từ cuối năm 2019, góp phần hạn chế mặn rất lớn cho hai tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng.

Theo dự kiến ban đầu, mùa khô năm nay có khoảng 96.600 hộ dân sẽ bị ảnh hưởng bởi nước sinh hoạt. Nhưng dự báo sớm giúp chúng ta chủ động hơn, nơi nào không thể cấp đến từng nhà thì có các điểm cấp nước tập trung. Đơn cử, Tiền Giang lắp 30 điểm cấp nước tập trung ở 30 xã đặc biệt khó khăn. Còn Sóc Trăng đã nối dài gần 200 km đường ống nước để xử lý nước và khoan thêm 37 giếng khoan để làm các điểm cấp nước không tập trung. Nơi nào không thể cấp nước tập trung thì vận các đơn vị, cá nhân, nhà hảo tâm chở nước bằng ghe, thuyền hoặc dùng các máy lọc nước từ nước lợ thành nước ngọt.

Chọn giải pháp “ít hối tiếc”

- Hạn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long trong tương lai liệu có khốc liệt hơn hay không?

- Căn cứ vào các chỉ số mà chúng ta đang có, thì chu kỳ hạn mặn cao điểm ngày càng ngắn lại. Tôi cho rằng, cùng với việc thượng nguồn bị tác động bởi khai thác thủy điện và nước biển dâng (hiện nước biển dâng 5-10 cm, đất sụt lún một năm một vài cm) thì hạn mặn ngày càng khốc liệt hơn và tần suất càng ngày càng nhiều hơn.

- Vậy giải pháp cho kịch bản này là gì, thưa ông?

- Theo tôi, phải tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp và thực hiện đúng quy hoạch sản xuất, đúng khuyến cáo từ các cơ quan chức năng, trong đó phải hướng đến: nước mặn, nước ngọt, nước lợ đều là tài nguyên. Nếu dựa theo nguyên tắc thuận thiên, thích nghi có kiểm soát thì khái niệm về xâm nhập mặn cũng cần được xem lại. Đúng hơn là phải khống chế ranh nước mặn, nước ngọt và nước lợ. Một số công trình thủy lợi cần tính toán lại để điều tiết chỗ nào cần nước mặn có nước mặn, chỗ nào cần nước ngọt thì có ngọt chứ không chỉ đơn thuần là ngăn mặn, giữ ngọt. Công trình thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé và cống Ninh Quới đang đi theo hướng này.

Hai là, phải tính toán lại toàn bộ quy hoạch sản xuất. Ngành nào dùng quá nhiều nước cần tính lại. Hiện đồng bằng sông Cửu Long bị sụt lún do sử dụng quá nhiều nước ngầm. Để khắc phục tình trạng này, thì phải giảm khai thác nước ngọt. Muốn vậy, cần phải tái cơ cấu sản xuất, phát triển những ngành dùng ít nước và dùng giải pháp công trình để kiểm soát mặn, ngọt.


Thứ trưởng Bộ NN – PTNN Nguyễn Hoàng Hiệp kiểm tra tình hình nước sinh hoạt tại hộ dân huyện Tân Phú Đông, Tiền Giang  (ảnh: Minh Trí)

Tất nhiên, không có giải pháp nào là hoàn hảo. Không chỉ đồng bằng sông Cửu Long mà đồng bằng sông Hồng cũng vậy, để ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng chúng ta cần phải lựa chọn giải pháp thích nghi, “ít hối tiếc”, tức là bên cạnh những tác động tích cực có thể vẫn có những ảnh hưởng nhưng ảnh hưởng đó là không đáng kể.
Công trình chống xâm nhập mặn là công trình phòng, chống thiên tai

- Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều sẽ được Quốc hội xem xét thông qua vào Kỳ họp tháng 5 tới. Dự thảo Luật giúp ích gì cho công tác ứng phó với hạn, mặn thời gian tới thưa ông?

- Luật Phòng, chống thiên tai 2013 đã quy định hạn hán, xâm nhập mặn là thiên tai. Tại lần sửa đổi này, công trình chống xâm nhập mặn đã được bổ sung là công trình phòng, chống thiên tai vào trong dự thảo Luật.

Đây là bổ sung rất quan trọng và qua thảo luận tại kỳ họp thứ Tám vừa qua, các đại biểu ủng hộ bổ sung quy định này. Việc xác định cụ thể công trình chống hạn hán, xâm nhập mặn vào công trình phòng chống thiên tai là cơ sở để các công trình sẽ được ưu tiên đầu tư, đầu tư được đồng bộ, “ra tấm, ra món”.
Nếu được Quốc hội thông qua, đây sẽ là căn cứ pháp lý quan trọng để các tỉnh bị thiên tai hạn hán, xâm nhập mặn nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng xử lý tình huống thiên tai phát sinh nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả hơn.  

Xin cảm ơn ông!

Hà An - Duy Anh thực hiện
Xem tin theo ngày:
LAO ĐỘNG
16:06 31/10/2019
Với tinh thần “thượng tôn pháp luật, đồng thuận chấp hành, chủ động sáng tạo”, là nguyên lý “thuận tự nhiên”, tạo ra không khí phấn khởi, thoải mái, vui tươi cho người lao động, anh em tự ý thức “làm hết việc chứ không chờ hết giờ”, “mình vì mọi người”… là phương châm được TS Nguyễn Ngọc Thạch, Giám đốc Cảng vụ Đường thủy nội địa Khu vực III quán triệt đến từng cán bộ trong đơn vị.
Quay trở lại đầu trang