XÃ HỘI
Cập nhật 07:46 | 19/10/2019 (GMT+7)
.
Mạng lưới cô đỡ thôn, bản ở vùng cao

Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp

09:20 | 31/08/2019
Được xem là cánh tay nối dài của ngành y tế ở vùng sâu, vùng xa nhưng chế độ đối với đội ngũ cô đỡ thôn, bản hiện vẫn chỉ mang tính động viên, khuyến khích. Theo các chuyên gia, thời gian tới cần xây dựng các chính sách, cơ chế phù hợp để bảo đảm điều kiện cho các cô đỡ thôn, bản yên tâm làm việc.

Cánh tay nối dài của ngành y tế

Xã Phố Cáo - một trong những xã vùng cao biên giới của huyện Đồng Văn, Hà Giang, đường đến các thôn, bản rất khó khăn, nhiều thôn không đi được bằng xe máy mà phải đi bộ. Thế nhưng, hơn 6 năm nay, cô đỡ thôn, bản Thào Thị Se (30 tuổi, người Mông) vẫn tận tụy, gắn bó với công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em ở nơi đây.

Những năm qua, “cô đỡ” Thào Thị Se đã phối hợp cùng trưởng thôn để tuyên truyền tới bà con về công tác chăm sóc sức khỏe như ăn chín, uống sôi… Hàng tháng, tranh thủ thời gian đến từng hộ gia đình có phụ nữ có thai để khám thai, vận động chị em đến trạm đẻ; hướng dẫn họ về cách vệ sinh cá nhân, cách vệ sinh cho con nhỏ và cách cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu. Trong vòng 6 năm, cô đỡ thôn, bản Thào Thị Se đã đỡ đẻ tại nhà cho 55 ca, thăm và khám cho gần 1.000 thai phụ, phát hiện chuyển viện kịp thời nhiều ca khó, nguy hiểm như ngôi ngang, chuyển dạ đẻ non, tiền sử sản giật, chuyển dạ kéo dài…


Nhiều cô đỡ thôn, bản bỏ nghề vì làm việc không có phụ cấp Nguồn: ITN

Hay ở xã Đăk Sao - một trong những xã đặc biệt khó khăn, đường đi lại rất hiểm trở của huyện Tu Mơ Rông, Kon Tum, nhiều năm nay cô đỡ thôn, bản Y Ngọc (38 tuổi, người Xê Đăng) vẫn ngày đêm lặn lội chăm sóc sức khỏe cho người dân nơi đây. Tâm sự về công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân vùng cao, “cô đỡ” Y Ngọc cho hay, người dân ở đây đa phần là người dân tộc Xê Đăng, với rất nhiều phong tục chăm sóc cho trẻ sơ sinh, trẻ em còn lạc hậu như không cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cho trẻ ăn bổ sung quá sớm khi mới 2 - 3 tháng tuổi nên nhiều trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ đau ốm không đưa đến Trạm y tế khám và điều trị sớm, không được chữa bệnh kịp thời nên có trẻ đã tử vong. Chưa kể, do thường xuyên đi làm rẫy nên khi mang thai, phụ nữ nơi đây rất ít khi đến cơ sở y tế để thăm khám.

Sau khi đi học lớp cô đỡ thôn, bản, cũng như được đào tạo cập nhật thêm các kiến thức, kỹ năng mới về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, Y Ngọc đã phối hợp với Trạm Y tế xã thực hiện việc tuyên truyền, vận động về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, khám thai, tư vấn chăm sóc sức khỏe bà mẹ khi mang thai tại nhà… Nhờ đó, đã phát hiện các trường hợp thai nghén có nguy cơ, các dấu hiệu nguy hiểm của bà mẹ trong chuyển dạ, sau sinh, các dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh, sơ cứu và chuyển tuyến trên. Với những nỗ lực tuyên truyền vận động bà con, tỷ lệ bà mẹ có thai đi khám ở xã đã tăng lên hơn 90% vào năm 2018, tỷ lệ đẻ tại cơ sở y tế tăng lên đến hơn 60% năm 2018.

Giải pháp hiệu quả

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến cho biết, nhận thức được những khó khăn trong công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Bộ Y tế đã có chủ trương đào tạo các cô đỡ thôn, bản người dân tộc thiểu số cho các vùng khó khăn. Cô đỡ thôn, bản là những người dân tộc thiểu số, được lựa chọn từ chính cộng đồng dân tộc tại địa phương. Họ được tham gia khóa đào tạo về y tế kéo dài 9 tháng để cung cấp dịch vụ làm mẹ an toàn cho phụ nữ đang mang thai tại các vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Cô đỡ thôn, bản có cùng văn hóa, phong tục tập quán nên dễ dàng tiếp cận và sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình để tuyên truyền, vận động, cung cấp dịch vụ làm mẹ an toàn ngay tại thôn, bản...

Nhờ những nỗ lực của các cô đỡ thôn, bản, sau nhiều năm triển khai, những hủ tục nơi vùng sâu, vùng xa dần được thay thế bằng kiến thức sinh sản có chuyên môn. Cụ thể, kiến thức và thực hành của phụ nữ dân tộc trong chăm sóc thai nghén, mang thai, sinh con... đã tăng lên rõ rệt; việc sử dụng dịch vụ chăm sóc thai nghén cũng cao hơn; các thai phụ có nguy cơ được phát hiện sớm và chuyển tuyến kịp thời tránh được các tử vong không đáng có.

Ngoài ra, còn rất nhiều hoạt động được phối hợp giữa các cô đỡ thôn, bản với Trạm y tế xã để chăm sóc sức khỏe cho nhân dân như tiêm chủng mở rộng, phòng chống suy dinh dưỡng, tổ chức chiến dịch uống vitamin A cho trẻ em… hướng dẫn phụ nữ mang thai cách chăm sóc bản thân khi mang thai, tiêm phòng uốn ván đầy đủ, chăm sóc trẻ em sau sinh.

Chế độ đãi ngộ còn bất cập

Đến nay, sau hơn 25 năm thực hiện chương trình cô đỡ thôn bản, đã có hơn 2.600 cô đỡ thôn, bản hoạt động trong tổng số 8.165 thôn, bản khó khăn; tỷ lệ tử vong mẹ đã giảm 4 lần, khoảng 58/100.000 trẻ đẻ sống. Việc tiếp tục duy trì và phát triển mạng lưới cô đỡ thôn, bản cũng góp phần duy trì kết quả thực hiện các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ số 4, 5, hướng tới thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững về sức khỏe bà mẹ, trẻ em vào năm 2030 của Việt Nam.

Tuy nhiên, hiện nay những chính sách, chế độ phụ cấp cho cô đỡ thôn, bản vẫn còn nhiều bất cập, do đó chưa “níu giữ” được cô đỡ thôn, bản gắn bó với nghề. Theo quy định, kinh phí để duy trì đội ngũ cô đỡ thôn, bản chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách địa phương. Trong khi đó, hầu hết các địa phương có cô đỡ thôn, bản hoạt động đều là những tỉnh miền núi, còn nghèo, chưa đủ khả năng tự cân đối ngân sách.

Thực tế, hiện nay cũng mới chỉ có các tỉnh là Điện Biên, Ninh Thuận, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang thực hiện cân đối ngân sách hỗ trợ cô đỡ thôn, bản 200.000 đồng/tháng theo Quyết định 57/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến, khi địa phương không có khả năng cân đối được ngân sách thì chế độ này sẽ bị cắt, như trường hợp tỉnh Hà Giang, từ năm 2017 đã phải cắt chế độ hỗ trợ dành cho cô đỡ thôn, bản, nên nhiều cô đỡ thôn, bản đã nghỉ việc.

Chia sẻ về vấn đề này, chị Thào Thị Se cho hay, làm cô đỡ thôn bản rất nhiều khó khăn và áp lực vì gần như việc gì cũng tham gia từ khám thai, đỡ đẻ, tiêm chủng cho trẻ, hướng dẫn bà mẹ về cách vệ sinh cá nhân, cách vệ sinh cho con nhỏ và cách cho con bú… cho đến tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe như ăn chín, uống sôi, nằm màn, diệt muỗi… “Các cô đỡ luôn trong tình trạng làm không xuể, nhưng chỉ được phụ cấp 200.000 đồng/tháng và từ năm 2017 tiền phụ cấp này cũng không còn. Đó là lý do trước đây ở xã có tất cả 5 cô đỡ thôn bản, đến nay đã có 4 cô đỡ bỏ nghề đi tìm việc khác để tăng thu nhập giúp gia đình” - chị Se chia sẻ.

Chủ trương đào tạo cô đỡ thôn, bản của Bộ Y tế tại các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa là giải pháp phát huy hiệu quả trong giai đoạn hiện nay, song theo Bí thư Đảng ủy xã Phố Cáo, Đồng Văn, Hà Giang Phạm Thị Hiền, chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ cô đỡ thôn, bản hiện vẫn chỉ mang tính động viên, khuyến khích nên chưa thu hút và giữ chân được các cô đỡ gắn bó với nghề. Phó Giám đốc Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Cao Bằng Nguyễn Thị Lành cũng thừa nhận, việc các cô đỡ thôn, bản ở nhiều tỉnh không nhận được phụ cấp đã gây khó khăn cho ngành y tế trong việc động viên các cô đỡ nhiệt tình tham gia chăm sóc sức khỏe sinh sản cho thai phụ.

Để đội ngũ cô đỡ thôn, bản hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em vùng dân tộc thiểu số, Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Phan Văn Hùng cho rằng, trước mắt Bộ Y tế và các bộ, ngành cần tiếp tục quan tâm và xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi phù hợp cho đội ngũ cô đỡ thôn, bản. Đồng thời, UBND các tỉnh, nhất là các địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn cần tiếp tục phát triển mạng lưới đội ngũ này, quan tâm bố trí kinh phí bảo đảm cho các cô đỡ thôn, bản có điều kiện làm việc tốt nhất. Về lâu dài, đội ngũ cô đỡ thôn, bản phải được khẳng định là một loại hình nhân viên y tế phù hợp với vùng dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi người dân khó tiếp cận với hệ thống y tế tuyến trên do các khó khăn về địa lý và phong tục tập quán.

Hiểu Lam
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang