XÃ HỘI
Cập nhật 09:07 | 16/06/2019 (GMT+7)
.

Tọa đàm “Dân số và phát triển: Cơ hội và thách thức mới”

14:44 | 13/06/2019
Nước ta đang trong giai đoạn cơ cấu “dân số vàng” cung cấp nguồn nhân lực dồi dào cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đang gặp phải nhiều khó khăn thách thức như: Chênh lệch mức sinh giữa các địa phương; tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ngày càng lan rộng; tốc độ già hóa dân số cao; tuổi thọ bình quân của người dân tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh thấp; phân bố dân số, quản lý nhập cư, di dân còn nhiều bất cập…

Để giải quyết các khó khăn thách thức trên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới. Theo đó, Nghị quyết chỉ rõ: “Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ KHHGĐ sang Dân số và Phát triển.” Ngay sau khi Nghị quyết 21-NQ/TW được ban hành, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 137/NQ-CP để thực hiện Nghị quyết 21 về công tác dân số trong tình hình mới. Tuy nhiên, qua theo dõi của Tổng cục DS-KHHGĐ, đến nay, vẫn còn 30 tỉnh/thành chưa ban hành chương trình hành động; 32 tỉnh chưa ban hành kế hoạch hành động của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết về công tác dân số trong tình hình mới. Đây là một trong những khó khăn trong việc thực hiện các mục tiêu của công tác dân số trong thời gian tới.

Với chủ đề “Dân số và phát triển: Cơ hội và thách thức mới”, chương trình Tọa đàm trực tuyến do Tổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình phối hợp với Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức nhằm trao đổi, thu nhận ý kiến ĐBQH, chuyên gia, nhà quản lý, cử tri về những thành tựu đáng ghi nhận mà công tác dân số nước ta đã đạt được trong thời gian qua; đồng thời tìm ra những tồn tại và đề ra những giải pháp.

Khách mời gồm:

- Ông Bùi Sỹ Lợi - Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội;

- Ông Bùi Ngọc Chương - Ủy viên Thường trực Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội;

- Ông Nguyễn Văn Tiên - nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội;

- Ông Nguyễn Văn Tân – nguyên Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình;

- GS.TS Nguyễn Đình Cử – nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Đại học Kinh tế quốc dân;

- Bà Trương Thị Kim Hoa- Phó giám đốc Trung tâm y tế quận Hoàn Kiếm.

Trân trọng kính mời bạn đọc theo dõi nội dung Tọa đàm tại đây:

Tại sao phải chuyển trọng tâm từ dân số kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển?

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Ngày 25.10.2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) về công tác dân số trong tình hình mới (gọi tắt là Nghị quyết số 21-NQ/TW). Lần đầu tiên trong suốt 25 năm qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận định nếu duy trì chính sách giảm sinh quá lâu sẽ để lại những hệ lụy rất khó giải quyết.

Thưa ông Bùi Sỹ Lợi, Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, từ góc độ cơ quan lập pháp, ông đánh giá như thế nào về những thành tựu của công tác dân số trong thời gian qua. Nghị quyết 21-NQ/TW có phải là cơ sở để chuyển hướng chính sách dân số không, thưa ông?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Có thể nói công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình (DS – KHHGĐ) của đất nước chúng ta trong 10 năm qua phải bảo đảm mức sinh thay thế là 2,1 con. Điều này khẳng định rằng, công tác dân số đã bảo đảm cho đất nước có cơ cấu dân số hợp lý để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế. Quá trình phát triển dân số như vậy, tạo cho chúng ta một lực lượng lao động đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, giảm được thất nghiệp, cung cấp nguồn nhân lực cho phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mưới những năm qua.


Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Bùi Sỹ Lợi

Có thể nói, công tác DS - KHHGĐ trong 10 năm qua ổn định là do Đảng và Nhà nước ta có chính sách đúng đắn về công tác DS - KHHGĐ, có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, có bộ máy làm công tác dân số chất lượng, kinh nghiệm. Điều này khẳng định ở chỗ, 10 năm qua tỷ lệ vẫn đáp ứng được mức sinh thay thế. Tôi cho đây là thành tựu quan trọng, thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước, việc tổ chức, triển khai của Chính phủ, các bộ ngành, và các địa phương có hiệu quả rất tốt.

Tuy nhiên, đến giai đoạn này, chúng ta đã bắt đầu nhận thấy những vấn đề bất cập bộc lộ: chất lượng dân số, cơ cấu dân số, sự phân bổ dân số giữa các vùng miền, giữa đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, vùng sâu vùng xa, đối với đô thị và các khu vực khác... Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần phải chuyển hướng về chính sách. Nghị quyết 21-NQ/TW 2017 về công tác dân số trong tình hình mới đã yêu cầu chuyển quá trình từ DS - KHHGĐ sang dân số phát triển.

Điều này khẳng định công tác về dân số phải được thay đổi theo chất lượng cơ cấu, quy mô dân số hợp lý để chuẩn bị cho quá trình dân số Việt Nam chuyển từ dân số vàng sang quá trình già hóa dân số. Quan trọng hơn, chúng ta phát triển dân số tốt nhưng chất lượng dân số của chúng ta hiện nay lại rất có vấn đề. Hiện nay tuổi thọ bình quân của nam  ở nước ta là 72,1 tuổi; nữ là 82,3 tuổi; bình quân tuổi thọ là 76,6. Tuổi thọ này cao hơn so với thế giới, tuy nhiên, chất lượng dân số già của chúng ta có vấn đề. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam, mỗi người già ở Việt Nam đang phải mang trong mình 3 loại bệnh. Điều này cho thấy, tuổi thọ bình quân của người dân tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh thấp.

Bên cạnh đó, chúng ta phải làm cuộc cách mạng để làm sao chúng ta phải thay đổi vóc dáng, chiều cao, cân nặng, trí tuệ… Nghị quyết 21-NQ/TW chuyển dịch cơ cấu dân số chính là để đáp ứng yêu cầu mới về phát triển dân số của đất nước. Điều này sẽ giúp chúng ta đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực, cung cấp cho thị trường lao động, đáp ứng quá trình CNH-HĐH, và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Thưa ông Bùi Ngọc Chương, Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, từ góc độ cơ quan lập pháp, ông nhìn nhận như thế nào về thành tựu dân số - kế hoạch hóa gia đình? Đâu là nguyên nhân của thành công?

Ông Bùi Ngọc Chương: Thực hiện các nghị quyết của Trung ương cũng như các văn bản pháp luật của nhà nước về chương trình hành động của Chính phủ trong giai đoạn gần 10 năm qua đã đạt được những thành tựu rất là đáng kể. Trong đó, đáng chú ý là kết quả đạt mức sinh thay thế đã đạt mục tiêu và duy trì từ năm 2017 đến nay. 

Chúng ta bước vào thời kỳ dân số vàng từ năm 2007 và dự báo kéo dài đến năm 2041, cùng với đó là thời kỳ già hóa dân số từ năm 2011 với tốc độ rất nhanh. Có nhiều chỉ tiêu đạt được sớm hơn so với kế hoạch đề ra. 

Theo tôi, Nghị quyết 21-NQ/TW đã đề ra mục tiêu chiến lược cho nhiệm vụ về dân số trong giai đoạn mới và đã chuyển trọng tâm từ DS - KHHGĐ sang mục tiêu dân số và phát triển. Nghị quyết nhằm đảm bảo việc nâng cao chất lượng dân số, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới về chất lượng dân số, cơ cấu dân số cũng như việc phân bổ dân số các vùng miền, đảm bảo việc giữ được mức sinh thay thế 2,1con/1 phụ nữ và quan trọng nhất là chuyển mục tiêu kế hoạch hóa sang mục tiêu phát triển.

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Thưa ông Nguyễn Văn Tiên, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, tại sao chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình đang thành công lại đặt vấn đề chuyển hướng chính sách?


Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Văn Tiên

Ông Nguyễn Văn Tiên: Đất nước đang phát triển rất, nhiều vấn đề mới nảy sinh đặt ra đòi hỏi chúng ta phải chuyển đổi chính sách, vì vậy việc chuyển đổi là cần thiết để đáp ứng nhu cầu cuộc sống. Tại sao chính sách DS - KHHGĐ đang thành công, chúng ta lại chuyển đổi sang định hướng mới? Thực tiễn từ hoạt động lập pháp của Quốc hội tôi thấy, chúng ta chuyển đổi chính sách từ DS - KHHGĐ sang dân số phát triển như vậy là hơi chậm. Từ năm 1960 – 1963, chúng ta bắt đầu triển khai, từ năm 1980 mới triển khai mạnh cho đến nay, nghĩa là mất 40 - 50 năm để chúng ta chuyển đổi chính sách. Từ năm 2003, Uỷ ban Về các vấn đề xã hội đã muốn thay đổi nhưng khi đưa ra pháp lệnh dân số thì chúng ta thực hiện không tốt khiến mọi thứ rối lên. Còn nếu từ đầu năm 2000 khi tỷ lệ sinh đạt xấp xỉ mức sinh thay thế, nếu chúng ta chuyển đổi chính sách dân số ngay lúc đó thì bây giờ sẽ ít hệ lụy hơn.

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Thưa ông Nguyễn Văn Tân, nguyên Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục DS – KHHGĐ, giữa chính sách cũ và chính sách mới, điều gì kế thừa, điều gì khác biệt?

Ông Nguyễn Văn Tân: Theo Nghị quyết 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới vẫn có sự kế thừa và phát triển, kế thừa các nguyên tắc chung của Đảng về mặt con người, lấy con người làm trung tâm, làm mục đích của sự phát triển đất nước. Bên cạnh đó, đặt sự phát triển dân số trong tiến trình phát triển của đất nước, kinh tế - xã hội và đảm bảo an sinh xã hội.


Nguyên Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình Nguyễn Văn Tân

Nghị quyết 21-NQ/TW còn đặt ra các mục tiêu như duy trì mức sinh thay thế, lấy mức sinh thay thế là mục đích để phấn đấu giống như luật cũ. Nghị quyết đã đặt mục tiêu chung của đất nước với mục tiêu của gia đình.

Còn về điểm khác biệt, theo tôi có 2 điểm khác biệt cơ bản như sau: 

Thứ nhất, trước đây chúng ta tập trung về vấn đề quy mô dân số, giảm sinh chứ chưa tập trung giải quyết các vấn đề khác. Nghị quyết 21-NQ/TW đã đặt ra và giải quyết một cách cụ thể bao gồm cả quy mô, cơ cấu, phân bố, nâng cao chất lượng.

Thứ hai, mức sinh trước đây giảm xuống nhưng đến Nghị quyết 21-NQ/TW dừng lại không giảm nữa mà chuyển sang duy trì, phát triển làm cho tác động già hóa dân số chậm lại.

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Thưa bà Trương Thị Kim Hoa, Phó giám đốc Trung tâm y tế quận Hoàn Kiếm, với góc nhìn từ cơ sở, bà có thể cho biết một số kết quả đạt được của công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình quận Hoàn Kiếm thời gian qua. Và Nghị quyết 21- NQ/TW chuyển chương trình DS - KHHGĐ sang dân số phát triển tác động đến công tác dân số tại quận Hoàn Kiếm như thế nào, thưa bà?

Bà Trương Thị Kim Hoa: Quận Hoàn Kiếm là một trong những quận trung tâm của Hà Nội vì vậy công tác DS - KHHGĐ luôn được chú trọng thực hiện. Ngày từ năm 2002, chúng tôi đã chuyển từ chương trình DS - KHHGĐ sang dân số phát triển, trong đó kết quả đạt được rất đáng khích lệ. Tỷ lệ sinh giảm tuyệt đối 1.200 trẻ từ 2012 - 2017 và độ cân bằng giới tính luôn ở trong cho phép. Quận Hoàn Kiếm đã và đang thực chủ trương thực hiện mục tiêu trọng tâm là tăng chất lượng dân số.


Phó giám đốc Trung tâm y tế quận Hoàn Kiếm Trương Thị Kim Hoa

Ở cấp cơ sở chúng tôi hiểu rõ người dân cần điều gì, từ đó có những kế hoạch thực hiện một cách hiệu quả, kịp thời. Chúng tôi hướng tới mục tiêu và đối tượng đích là mọi người dân đều được hưởng lợi ích tốt nhất. Đó là những yêu cầu xuất phát từ thực tế và quận Hoàn Kiếm đã nhận được sự đồng tình của mọi người dân trên địa bàn. 

Có thể nói, khi Nghị quyết 21- NQ/TW chuyển chương trình DS - KHHGĐ sang dân số phát triển ra đời là cơ sở pháp lý để cơ sở thực hiện các chương trình về dân số một cách cụ thể và hiệu quả hơn, góp phần mang lợi ích đến mỗi người dân, đặc biệt là trẻ em.

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Thưa GS.TS Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Đại học Kinh tế quốc dân, giá trị của chính sách dân số và phát triển ở chỗ nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Đình Cử: Trước hết, phải nói cảm xúc của chúng tôi -những nhà nghiên cứu khi đón nhận chính sách dân số mới của Đảng, trong lịch sử Việt Nam đã có 2 nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương về dân số là Nghị quyết 04-NQ/HNTW năm 1993 và Nghị quyết 21-NQ/TW năm 2017. Tôi thấy nhiều giá trị rất lớn:


Nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Đại học Kinh tế quốc dân Nguyễn Đình Cử

Thứ nhất, Nghị quyết 21-NQ/TW đã nhạy bén phát hiện đúng và trúng những vấn đề dân số của nước ta hiện nay, những vấn đề này đã tác động rất mạnh đến sự phát triển bền vững của đất nước. Đó là những vấn đề như mức sinh thấp, có sự khác biệt giữa các vùng miền, cơ cấu dân số vàng đồng thời với già hoá, mất cân bằng giới tính khi sinh, phân bố dân số chưa hợp lý, chất lượng dân số chưa cao… Cơ cấu dân số vàng khoảng từ năm 2006 thì đến năm 2011 chúng ta đã bước vào quá trình già hoá dân số, mất cân bằng giới tính khi sinh mới khoảng từ năm 2007. Giá trị của việc phát hiện ra những vấn đề dân số hiện nay của Việt Nam, những vấn đề này tác động rất mạnh đến sự phát triển bền vững của đất nước.

Thứ hai, chính sách dân số mới đề ra hệ quan điểm, mục tiêu, giải pháp mới cho chính sách dân số của nước ta. Tất cả những điều mới này là cuộc cách mạng về chính sách dân số ở Việt Nam vì nó thay đổi hoàn toàn mục tiêu. Cũng có thể nói đây là bước ngoặt của chính sách. Khi phát hiện đúng vấn đề và có hệ thống giải pháp đúng thì sẽ làm tăng hiệu quả đầu tư cho công tác dân số nước ta, quan trọng nhất là góp phần phát triển bền vững đất nước. Đây là giá trị cối lõi của chính sách dân số mới.

Thách thức mới về dân số và phát triển

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Nghị quyết số 21-NQ/TW đề ra hệ thống 6 mục tiêu toàn diện bao trùm các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số với 23 chỉ tiêu cụ thể. Có thể thấy rằng hệ thống mục tiêu và chỉ tiêu của Nghị quyết 21-NQ/TW rất rộng và rất cao. “Đây là vấn đề rất lớn và khó”. 

Cụ thể, về duy trì mức sinh thay thế: Thành tựu đạt được và duy trì mức sinh thay thế tính trên phạm vi cả nước trong nhiều năm nay là rất to lớn. Tuy nhiên, thách thức hiện nay là chênh lệch mức sinh giữa các khu vực, các vùng khá lớn. Vấn đề thứ hai là cân bằng giới tính khi sinh. Ở nước ta, mất cân bằng giới tính khi sinh được ghi nhận vào năm 2006, khi trong số trẻ em sinh ra trong năm, cứ 100 cháu gái thì tương ứng có tới 110 cháu trai. Sự mất cân bằng này đang tăng lên và đã ở mức nghiêm trọng. Năm 2016, tỉ số này lên tới 112,8/100. Thứ ba là vấn đề thích ứng với già hóa dân số: Năm 2011, dân số 60 tuổi trở lên của nước ta là 10%, nghĩa là Việt Nam đã chính thức bước vào quá trình già hoá. Theo dự báo, Việt Nam sẽ có “dân số già” vào năm 2035, khi tỉ lệ này tăng lên tới 20% với khoảng 21 triệu người cao tuổi.

Thưa ông Bùi Sỹ Lợi, ông nhìn nhận về 3 thách thức này như thế nào?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Có vấn đề này cần lưu ý, đó là tồn tại chênh lệch giữa mức sinh giữa các khu  các vùng là rất lớn. Như Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân đã phát biểu, mới thấy được chất lượng dân số, quy mô dân số giữa các vùng của chúng ta rất khác nhau. TP Hồ Chí Minh, tốc độ tăng dân số chỉ có ¼, thấp hơn rất nhiều so với bình quân của cả nước. Bí thư thành ủy của TP Hồ CHí Minh cho rằng, đây là nguyên nhân làm cho nguồn lực lao động của đô thị giảm đi. Tuy nhiên chúng ta vẫn được bồi đắp bằng lực lượng lao động di cư tự do ở các vùng và đô thị khác di chuyển vào. Tuy nhiên, điều này sẽ dẫn đến việc nảy sinh các vấn đề xã hội như nhà ở, y tế, giáo dục… 

Tốc độ tăng dân số ở nước ta có những vùng tăng rất cao, và có những dân tộc có nguy cơ suy giảm dân số. Tôi được biết, dân số của dân tộc Đan Lai ở Kon tum chỉ có mấy nghìn nhân khẩu, có dân tộc chỉ có mấy trăm người… Việc suy giảm dân số như vậy rất nguy hiểm. Trong khi đó, có những vùng phát triển, dân số tăng rất nhanh. Chúng ta cần giải quyết 2 vấn đề, đó là tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, 2 vấn đề này đều gây tác động đến chất lượng dân số, cơ cấu dân số và sự phát triển dân số. 

Thách thức lớn đối với chúng ta là chênh lệch mức sinh giữa các khu vực, giữa các vùng, là bước cản cho sự phát triển dân số của chúng ta. Thứ hai, vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh khi có khoảng 112 bé trai sinh ra/ 100 bé gái. Điều này sẽ tác động sau 20 năm sau, chúng ta sẽ thiếu cơ cấu về dân số và dẫn đến vấn đề kết hôn và xây dựng gia đình của lớp thanh niên này. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải giải bài toán này sớm mới đáp ứng trong tương lai. Thứ ba, đó là già hóa dân số. Cách đây  5 năm, những người từ 15 tuổi trở lên bước vào tuổi lao động từ có 1-1,2 triệu, nhưng đến năm 2019 chỉ còn khoảng 400.000 người ở độ tuổi này bước vào độ tuổi lao động. 

Mới đây, Chính phủ báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp thứ Bảy, 4 tháng đầu năm 2019, chúng ta giải quyết 440.000 chỗ làm việc mới, nhưng chỉ có 331.000 lao động bước vào độ tuổi lao động. Rõ ràng quy mô cung lao động đáp ứng cho cầu sử dụng bắt đầu mất cân đối. Tôi cho rằng, vấn đề thích ứng với già hóa dân số của chúng ta rất đáng lưu ý. 

Đến năm 2035, dân số của chúng ta khoảng cứ 4 người thì có 1 người già, và tỷ lệ phụ thuộc của chúng ta sẽ tăng khoảng 44%. Các chuyên gia Nhật Bản cho rằng, đến năm 2047, dân số của Việt Nam sẽ bằng dân số của Nhật Bản hiện nay. Nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực của Nhật Ban cũng rất đáng lưu ý, hiện nay họ phải nâng tuổi nghỉ hưu từ 65 lên 74 tuổi. Nếu chúng ta không đi trước đón đầu, và không khắc phục những tồn tại trên thì dân số của chúng ta đến những năm 2030 dứt khoát có vấn đề.

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Thưa ông Bùi Ngọc Chương, theo ông, những thách thức mới do đâu mà có?

Ông Bùi Ngọc Chương: Ba thách thức về công tác dân số không phải bây giờ mới nhận diện ra, nhưng chúng ta chưa có giải pháp khắc phục, vẫn là vấn đề nổi cộm cần giải quyết. Có những vấn đề văn hóa, tâm lý, truyền thống dân tộc, cũng như chênh lệch mức sinh giữa các vùng miền, các điểm đặc biệt giữa các vùng miền. Ví dụ, tại các đô thị lớn, đặc biệt là TP Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ mức sinh rất thấp, đang muốn kéo lên nhưng rất khó thực hiện. Trong khi những vùng điều kiện kinh tế thấp, điều kiện sống khó khăn thì mức sinh lại cao. 


Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Bùi Ngọc Chương

Mất cân bằng giới tính có nguồn gốc xuất phát từ vấn đề phân biệt giới tính, trọng nam khinh nữ, coi trọng con trai. Tình trạng này ngày nay có những cải thiện nhất định, do có những chính sách về bình đẳng giới, đưa ra nhiều giải pháp ứng phó nhưng chưa được như kỳ vọng. Qua theo dõi, các địa phương Hải Dương, Hưng Yên dù rất phát triển, văn minh, đời sống rất cao nhưng tỉ lệ sinh và mất cân bằng giới tính ở đây khá cao.

Vấn đề về già hóa dân số là thách thức rõ nhất, cần phải điều chỉnh cũng như tính tới chuyện 10 năm tới đây có khoảng 21 triệu người cao tuổi thì chúng ta sẽ xử lý như thế nào để tạo điều kiện cho người cao tuổi tiếp tục phát huy năng lực, đóng góp trí tuệ cũng như tạo điều kiện để người cao tuổi có chất lượng sống ổn định.

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Thưa ông Nguyễn Văn Tiên, ông từng giám sát và tham gia xây dựng pháp luật về dân số, theo ông, thách thức lớn nhất đối với vấn đề dân số và đặt ra đối với ngành dân số hiện nay là gì?

Ông Nguyễn Văn Tiên: Giai đoạn hiện nay thách thức công tác dân số khác hơn rất nhiều so với trước đây. Giai đoạn đầu làm công tác dân số, chúng ta có Uỷ ban Quốc gia Dân số và và sinh đẻ có kế hoạch, đến năm 1985 đổi tên thành Uỷ ban Quốc gia Dân số và và Kế hoạch hóa gia đình là cơ quan hoạt động độc lập như cơ quan thuộc Chính phủ, điều phối cho các ngành. Sau này, chúng ta thu gọn lại thành Ủy ban DS – KHHGĐ, chỉ làm mỗi công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình và trẻ em. Theo tôi nghĩ, đây là vấn đề không thể do một ngành phụ trách và đảm nhiệm được, bởi dân số phát triển là cả một lĩnh vực rất lớn. Do vậy chúng ta cần xây dựng tổ chức, bộ máy đúng việc, đúng người để có hiệu quả hơn.

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Thưa ông Nguyễn Văn Tân, ông đánh giá như thế nào về nhận xét: Tổ chức bộ máy làm công tác dân số thiếu ổn định, chức năng, nhiệm vụ chưa được điều chỉnh phù hợp với diễn biến tình hình dân số. Và đâu là thách thức lớn nhất, trực tiếp nhất tác động đến chính sách dân số hiện nay?

Ông Nguyễn Văn Tân: Về tổ chức bộ máy, thách thức lớn nhất là khi chức năng nhiệm vụ thay đổi thì chúng ta phải căn cứ vào nội dung và tính chất của công việc để định hình tổ chức bộ máy. Hiện nay theo Nghị quyết 18-NQ/TW về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và Nghị quyết 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập do sức ép của bộ máy quá lớn, dẫn đến cơ cấu của các ngành đều bị thu hẹp.

Nếu như giai đoạn 2011-2015, chỉ riêng chi cho kế hoạch hóa gia đình là 800 tỷ/năm thì đến nay nhiều công việc hơn, nhưng chỉ được 300 tỷ/năm. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất chính là nhân lực, từ cấp lãnh đạo cho tới nhân viên. Định hình về nhận thức, kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo trước đây cần phải được đào tạo lại, cần thấm nhuần theo định hướng mới. Từ nhận thức cho tới hành vi đều đã thay đổi, nếu như chúng ta không thay đổi thì Nghị quyết 21-NQ/TW chỉ nằm trên giấy và không đi được vào cuộc sống

Hội nghị G20 vừa kết thúc cho rằng vấn đề già hóa dân số trở thành thách thức toàn cầu. Chúng ta cũng là nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới, ví dụ như Pháp họ từ 7% lến 14% dân số già mất 126 năm trong khi ta chỉ có 18 năm. Nếu muốn giải quyết được vấn đề, chúng ta phải xử lý rất nhanh chứ không thể chờ đợi như họ. Nên Nghị quyết 21-NQ/TW là nghị quyết rất có giá trị đối với nước ta trong tình hình  “đại hạn dân số toàn cầu”.

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Thưa bà Trương Thị Kim Hoa, thách thức trong triển khai Nghị quyết 21-NQ/TW tại quận là gì?

Bà Trương Thị Kim Hoa: Ngành dân số hiện nay đang gặp khó khăn về nhân lực. Khi sáp nhập các trung tâm dân số vào trung tâm y tế thì kết cấu ngành dân số bị phá vỡ. Những người làm công tác dân số không có chuyên môn sâu về y tế nên nhiều người không thể yên tâm làm công tác.

Khi ngành dân số sáp nhập với ngành y tế, chúng tôi đã mất đi lợi thế gần dân dẫn đến khó có sát cánh cùng người dân đi vào những chương trình, hoạt động cụ thể. Ví dụ: Trước kia, khi chúng tôi nhận thấy thực trạng tỷ lệ trẻ nhỏ đang dậy thì sớm đang gia tăng, qua rà soát phát hiện có tới 52,8% trẻ em nữ trên địa bàn dậy thì sớm. Chúng tôi đã tổ chức nhiều chương trình về chế độ dinh dưỡng, can thiệp để các em không bị thấp lùn.

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Thưa GS.TS Nguyễn Đình Cử, ông đánh giá những thách thức này tác động đến kinh tế xã hội và phát triển đất nước như thế nào? Và vấn đề nguồn lực đầu tư cho dân số và phát triển có phải là thách thức lớn đặt ra hiện nay?

Ông Nguyễn Đình Cử: Tôi cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay chính là về nhận thức, về sự hiểu biết một cách tường tận, triệt để, căn cơ về Nghị quyết 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới. Bởi chúng ta tư duy chính sách DS - KHHGĐ 60 năm nay, nhắc đến dân số là nhắc đến giảm sinh, là kế hoạch hoá gia đình. 60 năm đã thành dấu ấn trong tư duy người Việt Nam rằng vấn đề dân số chỉ là vấn đề sinh đẻ mà thôi. Tư duy này hiện nay vẫn còn rất nặng nề, vẫn áp vào bộ máy y tế từ Trung ương đến cơ sở. 

Năm 2018, tôi tham dự rất nhiều hội thảo về dân số nhưng tôi thấy nhiều người chưa thật sự hiểu một cách thấu đáo về Nghị quyết 21-NQ/TW về bước chuyển trọng tâm chính sách dân số và phát triển. Như vậy, vướng nhất hiện nay là vấn đề nhận thức thay đổi tư duy. Thay đổi điều này rất khó khăn, không thể trong một sớm một chiều, và nếu tư duy chưa thay đổi thì các hành vi, các biểu hiện về bộ máy tổ chức, đầu tư sẽ còn vướng. Từ vướng tư duy dẫn đến vướng nguồn lực.

Nếu chúng ta không chuyển trọng tâm một cách trọn vẹn, không tận dụng được cơ hội dân số vàng, không thích ứng được già hoá dân số, không giảm được mất cân bằng giới tính khi sinh, không nâng cao được chất lượng dân số thì tăng trưởng kinh tế có thể chậm lại. Những biểu hiện về hậu quả xã hội của mất cân bằng giới tính khi sinh rất nặng nề và phân bố dân số ngày càng bất hợp lý. Tất cả những điều đó sẽ ảnh hưởng toàn diện đến sự phát triển bền vững của đất nước.

Giải pháp lập pháp và con đường của dân số phát triển bền vững

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Để thực hiện thành công Nghị quyết 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới, để đạt được những mục tiêu đề ra, cần triển khai đồng bộ hệ thống 7 giải pháp mà Nghị quyết đã xác định, bao gồm các giải pháp về lãnh đạo, chỉ đạo; truyền thông thay đổi hành vi; xây dựng pháp luật và chính sách; củng cố và phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ; đầu tư và quản lý tài chính; củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy và hợp tác quốc tế.

Thưa ông Bùi Sỹ Lợi, chúng ta cần xây dựng và ban hành chiến lược, pháp luật và chính sách dân số cho giai đoạn mới. Vậy Quốc hội sẽ xem xét như thế nào trong chương trình lập pháp?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Có 7 nhóm giải pháp, theo tôi nếu chúng ta thực hiện được thì quá trình phát triển dân số theo tư duy mới sẽ thành công. Sau nghị quyết 21-NQ/TW, Chính phủ đã có Chiến lược đó là Nghị quyết 137/NQ-CP, và 47 Đề án rất cụ thể. Tuy nhiên đến nay, sự chuyển động tương đối chậm. Tôi cho rằng, Nghị quyết hết sức quan trọng, nhưng Nghị quyết chỉ là định hướng tư tưởng, quan điểm, giải pháp của Đảng để đạt mục tiêu phát triển dân số, còn để tốt hơn thì phải thể chế bằng pháp luật. Đó là những văn bản có tính chất pháp quy cao nhất, yêu cầu mọi người phải thực hiện, làm theo. Tuy nhiên, ngay từ đầu nhiệm kỳ Khóa 14, chúng tôi đã đưa vào Chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh là nâng Pháp lệnh Dân số thành Luật Dân số, nhưng ngay từ vòng đầu, Luật Dân số đã không đủ điều kiện để được đưa vào để thông qua. 

Tôi nghĩ rằng, quyết tâm của Chính phủ, nếu chúng ta muốn thực hiện tốt Nghị quyết 21-NQ/TW chuyển từ DS - KHHGĐ sang dân số và phát triển, chúng ta đạt được mục tiêu chất lượng, cơ cấu dân số của chúng ta đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước, thì chúng ta phải sớm nghiên cứu để ban hành Luật Dân số để đáp ứng yêu cầu. Chúng tôi chờ đợi và sẽ tham gia cùng với Chính phủ để trình được dự thảo luật này lên Quốc hội. Có như vậy, chúng ta mới bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước về dân số.

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Thưa ông Bùi Ngọc Chương, ngày 31.12.2017, Chính phủ đã có Nghị quyết số 137/NQ-CP về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới. Theo đó, Nghị quyết 137/NQ-CP xác định 42 đề án cần được xây dựng, ban hành cho đến năm 2020; trong đó, 7 đề án cần được xây dựng hoàn thành trong năm 2018. Đây là chương trình cụ thể hóa Nghị quyết 21-NQ/TW. Ở góc độ cơ quan giám sát, theo ông, việc đưa Nghị quyết này vào cuộc sống có những vướng mắc gì và cần những giải pháp tháo gỡ như thế nào?

Ông Bùi Ngọc Chương: Trên cơ sở Nghị quyết Trung ương, Chính phủ cũng đã có chương trình hành động tuy nhiên để thể chế hóa đạt kết quả tốt hơn cần khẩn trương xây dựng Luật Dân số. Trước khi có Nghị quyết 21-NQ/TW, Dự án về xây dựng Luật Dân số đã được chuẩn bị, Ủy ban Về các vấn đề xã hội cũng đã xem xét, cho ý kiến tuy nhiên việc chuẩn bị có ý kiến chưa đồng thuận, Quốc hội  chưa đồng ý đưa vào chương trình của Quốc hội.

Tôi cũng chia sẻ vấn đề khó khăn như Dự thảo ban đầu đưa ra, đang gặp nhiều khó khăn trong cách thiết kế chính sách, giải pháp, tổ chức. Đơn cử như xử lý mức sinh chênh lệch giữa các vùng miền, để làm sao chỗ cần tăng cần giảm bảo đảm mức hợp lý. Yếu tố phát triển Luật Dân số, chúng ta phải suy nghĩ để nhận thức hết những quan điểm mới, mục tiêu đề ra. Chúng tôi mong muốn Dự án Luật Dân số được thúc đẩy tích cực hơn, Ủy ban Về các vấn đề xã hội sẽ đồng hành, thúc đẩy cho Dự án Luật này sớm được trình Quốc hội.

- Thưa ông Nguyễn Văn Tân, vượt qua thách thức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới của chính sách dân số, theo ông, mô hình tổ chức, bộ máy làm công tác dân số sẽ phải thay đổi như thế nào?

Ông Nguyễn Văn Tân: Về giải pháp chung Nghị quyết 21 đã đưa ra và được cụ thể hóa trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Về tổ chức bộ máy, vấn đề liên quan đến dân số nằm ở rất nhiều bộ, ngành khác nhau, vì vậy chúng ta cần có một cơ quan điều phối để tăng sự đồng nhất giữa các bộ ngành, để nỗ lực của các bộ, ngành về công tác dân số không triệt tiêu mà hỗ trợ lẫn nhau. Ví dụ như ở Hàn Quốc, họ giải quyết vấn đề dân số chỉ có hai việc: giảm mức sinh thấp và già hóa dân số. Họ vẫn thành lập ban điều phối do đích thân Tổng thống làm Chủ tịch ủy ban và các thành viên là 22 bộ trưởng, phân chia nhiệm vụ theo một định hướng và kế hoạch thống nhất. 

Trước đây, chúng ta chỉ giải quyết một việc là kế hoạch hóa gia đình, thì vẫn còn có cơ quan điều phối. Và thiết nghĩ nó phải là cơ quan thuộc Chính phủ chứ không nên sắp xếp vào một bộ nào cả vì như thế hiệu quả sẽ không đạt được như mong muốn.

Để giúp cho cơ quan điều phối thì chúng ta cần có cơ quan chuyên trách, có chuyên môn, có kinh nghiệm. Nếu giao công việc mà không có người có chuyên môn, người thực hiện thì cũng không đi tới đâu.  

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Thưa bà Trương Thị Kim Hoa, đổi mới tư duy, nhận thức của các ngành, các cấp và toàn dân về công tác dân số trong tình hình mới là vô cùng quan trọng. Theo bà, để làm được điều đó cần những giải pháp gì?

Bà Trương Thị Kim Hoa: Chúng tôi thấy rằng Nghị quyết 21 ra đời là một nghị quyết đầy tâm huyết, đạo đức. Ngành dân số đã say mê thực hiện Nghị quyết này và nghị quyết đi vào cuộc sống với đầy sự yêu thương. Nghị quyết ra đời như một công cụ giải quyết tất cả những điều băn khoăn ở cấp cơ sở. Chúng tôi nhận thấy nhiều xã, phường, thị trấn gần như đã xoá sổ hệ thống dân số. Khi UBND các cấp không vào cuộc, những chương trình để ngành dân số triển khai gặp rất nhiều khó khăn.

Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ mở rộng các đối tượng để truyền thông có trọng tâm, có mục tiêu mới là người cao tuổi với những chương trình như sàng lọc ung thư. Đối tượng tập chung là những phụ nữ độ tuổi từ 35-60. Chúng tôi cũng đã mở rộng đối tượng đích, đổi mới hoạt động để tiếp cận người dân đến 14 trường mầm non tư thục và tiểu học, 7 trường THCS, THPT. Điều này góp phần đổi mới tư duy, nhận thức của các ngành, các cấp và toàn dân về công tác dân số trong tình hình mới. Phải đưa được người dân vào các chương trình, hoạt động của ngành dân số. Hệ luỵ của việc thiếu quan tâm đến dân số đã quá rõ ràng. Tính riêng quận Hoàn Kiếm có 47% số trẻ em có bất thường ở sinh dục cần can thiệp. Số trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh 2,2% trên 10 ngàn trẻ em. Số lượng trẻ em nghe kém, những em bé dối loạn về ngôn ngữ cũng rất nhiều…

Tuy nhiên, giải pháp hiệu quả chúng tôi không tìm ra. Chúng tôi không thể tiếp cận phụ huynh của các em. Nhiều gia đình đang thiếu quan tâm đúng cách đến sức khoẻ của con em họ. Thời gian tới chúng tôi sẽ thay đổi cách truyền thông đến các cấp, các ngành. Trẻ em không có lỗi. Cộng đồng hãy chung tay để cho trẻ một cơ hội phát triển toàn diện!

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Thưa GS.TS Nguyễn Đình Cử, để giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bổ, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội, theo ông cần những giải pháp gì?

Ông Nguyễn Đình Cử: Để giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bổ, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội, nghị quyết 21-NQ/TW đã đề ra 7 nhóm giải pháp tổng quát. Sau Nghị quyết 21-NQ/TW không lâu, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 137/NQ-CP và cụ thể hoá nghị quyết này bằng 42 đề án. Đây là bước cụ thể hoá rất lớn, nhưng vấn đề đáng tiếc là cho đến nay, sau 2 năm thì chưa có đề án nào xây dựng xong, mà khi chưa có kịch bản thì không thể triển khai được, đang nghẽn ở điểm này. Do đó, trước mắt Chính phủ cần đôn đốc tất cả các Bộ, ban, ngành đã được giao đề án phải xong sớm, trình để Chính phủ duyệt. 

Một điểm đáng nói nữa là khi cần Tổng cục thì có Uỷ ban, nhưng khi chúng ta cần Uỷ ban thì chỉ có Tổng cục. Tôi nói như vậy là bởi vì khi chúng ta chỉ giải quyết vấn đề giảm sinh thì có Uỷ ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá gia đình. Thực ra lúc bấy giờ chỉ cần một Tổng cục Dân số kế hoạch hoá gia đình nằm trong Bộ Y tế là ổn, nhưng hiện nay có 24 chỉ tiêu có trong rất nhiều lĩnh vực, các bộ, ban, ngành thì chỉ còn Tổng cục.

Với mô hình dân số nằm trong cơ quan y tế như hiện nay, khó ở chỗ y tế chờ bệnh nhân đến, còn dân số là đến với khách hàng; y tế là giải quyết những vấn đề gấp, nguy hiểm, còn dân số là rất quan trọng nhưng lâu dài. Rõ ràng, nếu dân số là một phần của y tế, thì thường sẽ chỉ tập trung xử lý nguồn lực cho những vấn đề gấp, vấn đề cấp cứu trước, còn vấn đề dân số là sau. Do đó dẫn đến mâu thuẫn trong bộ máy hiện nay, nhưng lại chưa thể đề xuất được vấn đề giải quyết. 

Bản thân tôi là người nghiên cứu, cũng đi quan sát từ cấp xã, cấp huyện, đến tỉnh thì cũng đã phát hiện ra vấn đề nhưng lại đang vướng Nghị quyết 18 và 19 nên chưa thể tìm ra lời giải.

Nhà báo Nguyễn Lệ Thủy: Thưa quý vị và các bạn!

Nghị quyết số 21 của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành TƯ Ðảng Khóa XII nêu rõ: "Chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững". Như vậy có thể thấy, nhiều vấn đề về công tác dân số cần giải quyết cả giai đoạn hiện nay và trong tương lai, trong đó có các giải pháp về bộ máy, giải pháp về kinh tế, giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức. Nhưng dù là gải pháp gì nếu tiến hành chậm trễ thì hậu quả tác động trở lại phát triển kinh tế- xã hội, con người sẽ rất nặng nề. Vì vậy, dân số và phát triển phải được đặt ra cấp bách ngay từ bây giờ.

Một lần nữa, trân trọng cảm ơn các vị khách quý đã tham gia Tọa đàm ngày hôm nay và mong được gặp lại trong lần đối thoại lần sau.

Xin trân trọng cảm ơn!

Xem tin theo ngày:
LAO ĐỘNG
22:14 16/12/2018
Ngày 16.12, tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức “Ngày Hội khởi nghiệp quốc gia của học sinh, sinh viên năm 2018”. Tham dự lễ khai mạc có Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam; Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ, cùng đại diện lãnh đạo một số bộ, ban, ngành Trung ương.
Quay trở lại đầu trang