XÃ HỘI
Cập nhật 22:35 | 14/11/2019 (GMT+7)
.

Tọa đàm “Phủ sóng nước sạch về nông thôn tại Hưng Yên - cầu nối từ nguồn vốn xã hội hóa”

21:35 | 15/11/2018
Theo báo cáo của Sở NN - PTNT tỉnh Hưng Yên, trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 31 tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp quản lý 37 nhà máy sản xuất nước sạch, cấp cho 45 hệ thống cấp nước tập trung. Các hệ thống cấp nước tập trung này đã được quy hoạch cấp nước cho 161 xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh. Theo tốc độ và lộ trình hiện nay, đến năm 2020, việc “phủ sóng” mạng lưới cấp nước sạch cho 100% người dân toàn tỉnh sẽ cơ bản hoàn thành.

Khi nước sạch chưa đến từng hộ dân thì chương trình quốc gia về nước sạch vẫn còn cách xa thực tiễn. Khi người dân còn chờ đợi, mong mỏi cũng chính là nỗi lo toan, là nhiệm vụ quan trọng của chính quyền các cấp. Tìm các giải pháp thúc đẩy nhanh, mạnh nguồn nước sạch tới từng người dân, nâng cao nhận thức của người dân nông thôn về sử dụng nước sạch, Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức Tọa đàm “Phủ sóng nước sạch về nông thôn tại Hưng Yên - cầu nối từ nguồn vốn xã hội hóa”.

Tọa đàm mong muốn nhận được các ý kiến chia sẻ của các ĐBQH, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp về những thách thức trong đầu tư, phát triển nguồn nước sạch, kiểm soát chất lượng nước, chất lượng cấp nước, các giải pháp đầu tư cho chương trình nước sạch gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, từ đó ngày một nâng cao chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh.

Ảnh: Lâm Hiển

Khách mời tham gia Tọa đàm gồm:

- Ông Nguyễn Vinh Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội;

- Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội;

- Ông Nguyễn Minh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên;

- Ông Trần Nhật Lam, Phó Chánh văn phòng, Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương;

- TS Nguyễn Thanh Hà, Phó Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế;

- Ông Lê Trung Cần, Phó Giám đốc Sở NN – PTNT tỉnh Hưng Yên;

- Ông Nguyễn Văn Tín, Giám đốc Công ty cổ phần nước sạch Hưng Yên;

- Ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH nước sạch Ngọc Tuấn - Nagaoka.

Trân trọng kính mời bạn đọc theo dõi nội dung Tọa đàm tại đây:

Chính quyền và doanh nghiệp cùng nỗ lực nâng tỷ lệ bao phủ nước sạch tại Hưng Yên

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Thực hiện Chiến lược quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường, những năm qua, Hưng Yên đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, đồng hành cùng doanh nghiệp nhằm huy động tối đa nguồn lực đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sạch. Các công trình cấp nước tập trung ngày càng tiến xa hơn về các khu vực nông thôn, đưa mạng lưới đường ống dẫn nước tới từng hộ gia đình, từng đơn vị có nhu cầu sử dụng. Với sự thay đổi trong “cách nghĩ, cách làm”, Hưng Yên đã và đang nâng dần tỷ lệ người dân được tiếp cận, sử dụng nước sạch.

Hiện tỷ lệ dân đấu nối sử dụng nước sạch từ các trạm cấp nước tập trung của tỉnh đạt khoảng 31%. Trong đó, chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2018, tỉnh Hưng Yên đã đấu nối thêm được hơn 10 nghìn đồng hồ đo nước, nâng tổng số hộ dân được cung cấp nước sạch lên hơn 200.000.

Câu hỏi đầu tin xin được dành cho ông Nguyễn Minh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên, được biết hiện tỷ lệ số dân nông thôn trên toàn tỉnh sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đạt 67%. Đây là thành tích rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu thiên niên kỷ và tính bền vững chắc hẳn còn rất nhiều khó khăn, thưa ông?

Ông Nguyễn Minh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên
Ảnh: Lâm Hiển

Ông Nguyễn Minh Quang: Đối với Hưng Yên, đến thời điểm năm 2016, tỷ lệ cấp nước sạch rất thấp. Hưng Yên là một trong những tỉnh có tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch bằng các hệ thống cấp nước tập trung thấp nhất trong 9 tỉnh đồng bằng sông Hồng, tỷ lệ cấp nước sạch bằng các hệ thống cấp nước tập trung chỉ đạt trên 20%. Người dân Hưng Yên chủ yếu sử dụng nước mưa, nước sông nội đồng, bảo đảm vệ sinh an toàn rất thấp. Chính vì vậy, tỉnh thấy cần có giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn mà tỉnh đã đặt ra.

Hưng Yên hiện có 31 nhà máy nước được đầu tư bằng nguồn vốn của Chương trình mục tiêu quốc gia. Trước đây, có 16 công trình được đầu tư theo Chương trình mục tiêu quốc gia và khoảng 10 công trình được đầu tư theo Chương trình WB – chương trình dành cho 8 tỉnh đồng bằng liên quan đến nguồn vốn WB tài trợ. Nhưng tất cả 31 nhà máy nước cấp nước cho dân Hưng Yên, đặc biệt những nhà máy nước đầu tư theo Chương trình mục tiêu quốc gia trước đây thì vùng cấp nước chỉ được 46/161 xã, thị trấn của tỉnh. Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch chỉ đạt hơn 20%, chưa kể chất lượng nước của các nhà máy này rất thấp, do nguồn lấy nước chủ yếu từ nước sông nội đồng, trong đó nhiều nguồn nước ô nhiễm do nước thải công nghiệp. Nguồn thứ hai là từ nước ngầm mà chất lượng nước ngầm không đảm bảo. Từ đó, dẫn đến tình trạng nhiều nhà máy cấp nước không đảm bảo an toàn về mặt vệ sinh, về mặt lưu lượng nước cũng như áp lực nước để phục vụ đời sống cho người dân ở nông thôn. Chúng tôi thấy việc này thực sự khó khăn.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) trong đó có tiêu chí về nước sạch, tỉnh đã xây dựng quy hoạch. Khi xây dựng quy hoạch, tỉnh cũng xem xét lại năng lực của các nhà máy, điều chỉnh lại các vùng cấp nước cho phù hợp để làm sao tập trung chỉ đạo triển khai việc cấp nước của từng nhà máy đến người dân tốt hơn. Cuối 2016, Hưng Yên đã hoàn thành quy hoạch này. Và trên cơ sở quy hoạch, tỉnh thành lập Ban chỉ đạo để triển khai, giao trách nhiệm cho các cấp chính quyền, các doanh nghiệp được phân vùng cấp nước phải có trách nhiệm đấu nối với người dân.

Đối với Hưng Yên, đến 2017 tỷ lệ cấp nước của Hưng Yên mới đạt 29%. So với các tỉnh xung quanh như Thái Bình, Hải Dương, Bắc Ninh… đều có cơ chế hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tư vào nước sạch bằng nguồn ngân sách. Mức hỗ trợ khoảng 3.000.000/m3 công suất/ 1ngày đêm, hoặc hỗ trợ 30% hệ thống cấp nước. Nhưng Hưng Yên chưa có một cơ chế chính sách nào để có thể thực hiện.

Thứ hai, năm 2010 đã ban hành giá nước nhưng đến nay chưa có điều chỉnh về giá, hiện tương đối thấp so với mặt bằng chung ở khu vực. Ví dụ, tỉnh Hải Dương giá nước bình quân lũy tiến khoảng 9.900/m3; Thái Bình khoảng 7.500/ m3 sau khi được hỗ trợ ngân sách tỉnh khoảng 20-25%, ngoài ra huy động đóng góp từ dân thông qua nguồn đấu nối 15-10%.

Câu hỏi dành cho Hưng Yên là làm cách nào đẩy nhanh được tiến độ phủ nước sạch cho người dân?

Hưng Yên kêu gọi được 13 doanh nghiệp đầu tư vào nước sạch trên địa bàn tỉnh, với cam kết là tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp có vùng cấp nước ổn định và triển khai thực hiện cấp nước thì chính quyền sẽ đồng hành với doanh nghiệp để vận động người dân thấy được lợi ích từ việc dùng nước sạch. Tỉnh sẽ xây dựng cơ chế chính sách và điều chỉnh giá nước cho phù hợp với chi phí của doanh nghiệp hiện nay. Đồng thời với đó, tỉnh cổ phần hóa nhà máy nước sạch của TP Hưng Yên. Từ đó, tỉnh giao chỉ tiêu cho các huyện, các đơn vị phải đầu tư trước để phủ mạng cấp nước sạch đến các xã trên địa bàn tỉnh. Đây là trách nhiệm của doanh nghiệp, và tỉnh cũng yêu cầu chính quyền địa phương phải tạo mọi điều kiện cho các doanh nghiệp triển khai trong vùng cấp nước của mình.

Tỉnh Hưng Yên cũng yêu cầu các cấp, các ngành phải vào cuộc, đẩy nhanh tuyên truyền. Cùng với đó chúng tôi thường xuyên chỉ đạo Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh siết chặt chất lượng nước. Các nhà máy nước từ 1.000m3/ngày đêm thì bắt buộc phải đảm bảo tiêu chuẩn 01 của Bộ Y tế về chất lượng nước sạch. Còn các nhà dưới 1.000m3 phải đặt tiêu chuẩn 02, nhưng cung cấp cho từ hai xã trở lên là phải đạt tiêu chuẩn 01. Đặc biệt là mua nước nguồn của các đơn vị khác. Thứ hai, Hưng Yên không cho sử dụng nước sông nội đồng làm nguồn nước. Vì thế chất lượng nước được tăng lên, được đảm bảo tốt hơn và người dân dần tin tưởng vào chất lượng nước.

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Từ góc độ quản lý của cơ quan chuyên môn giúp việc UBND tỉnh, thưa ông Lê Trung Cần, Phó Giám đốc Sở NN – PTNT tỉnh Hưng Yên, ông nhìn nhận như thế nào về vấn đề này?

Ông Lê Trung Cần, Phó Giám đốc Sở NN – PTNT tỉnh Hưng Yên
Ảnh: Lâm Hiển

Ông Lê Trung Cần: Đến nay, đã có 94% số hộ dân ở Hưng Yên được sử dụng nước hợp vệ sinh, khoảng 67% số hộ được sử dụng nước bảo đảm theo quy chuẩn của Bộ Y tế, trong đó số hộ được sử dụng nước sạch công trình tập trung chỉ đạt 32%. Mục tiêu đến năm 2020, tỉnh Hưng Yên đặt ra là 100% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 94% số hộ được sử dụng nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung. Để thực hiện được mục tiêu này, vấn đề đặt ra với cơ quan chuyên môn chúng tôi phải tham mưu với UBND tỉnh, Ban chỉ đạo cấp nước của tỉnh về việc thực hiện tốt các nhiệm vụ, đặc biệt là thực hiện tốt các cơ chế, chính sách để đẩy mạnh việc xã hội hóa cấp nước sạch.

Nhìn lại việc thực hiện chương trình nước sạch, từ khi bắt đầu thực hiện chương trình (năm 1998), từ khi khởi công công trình nước sạch đầu tiên là nhà máy cấp nước sạch Hồng Quang, đến nay 20 năm, ngân sách của tỉnh mới dành ra được 700 tỷ để đầu tư xây dựng 26 công trình cấp nước sạch, phục vụ cho 42 xã trên địa bàn. Thời gian gần đây, thực hiện chủ trương xã hội hóa, Hưng Yên cũng đã thu hút được 13 doanh nghiệp đầu tư xây dựng được 17 hệ thống cấp nước sạch trên địa bàn, khi hoàn thành các công trình này sẽ phủ kín việc cấp nước sạch trên toàn địa bàn...

Tuy vậy, còn một số khó khăn, hạn chế mà tỉnh cần khắc phục trong thời gian tới. Cụ thể, nhận thức của một bộ phận nhân dân cũng chưa thật đầy đủ về việc sử dụng nước sạch cũng như việc thực hiện những cơ chế, chính sách trong sử dụng nước sạch. Để khắc phục vấn đề này, chúng tôi đã phối hợp cùng với các xã, thôn đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến về lợi ích của việc sử dụng nước sạch, những chủ trương chính sách, quy định về vấn đề này để người dân hiểu rõ hơn.

Vấn đề nữa là cơ chế chính sách, chúng tôi còn đang nợ các doanh nghiệp, tới đây chúng tôi cũng sẽ có những tham mưu cho tỉnh để tháo gỡ những khó khăn về chính sách cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, cần xem xét, rà soát để làm sao các doanh nghiệp sớm được phê duyệt giá nước mới phù hợp với thực tế, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và người dân. Tức là, mức giá ở đây bảo đảm để doanh nghiệp không khó khăn, mà người dân có thể tiếp cận được. Nếu giá thấp quá thì khó khăn cho doanh nghiệp, mà cao quá thì người dân cũng không thể tiếp cận được. Đó là vấn đề tỉnh cũng cần quan tâm giải quyết trong thời gian tới.

Về vấn đề quản lý chất lượng nước, trong thời gian qua vấn đề này được lãnh đạo tỉnh đặc biệt quan tâm, giao trách nhiệm cho các cơ quan chuyên môn xử lý. Và tại các kỳ họp HĐND, các ý kiến cử tri nêu lên, chúng tôi đều có trách nhiệm cho cán bộ xuống kiểm tra, xử lý kịp thời để bảo đảm chất lượng nước ổn định, có yêu cầu các doanh nghiệp phải bảo đảm để người dân được tiếp cận, sử dụng nước sạch.

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Thực tế những năm qua, bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, đã có hàng trăm công trình nước sạch hoàn thành, đưa vào sử dụng, góp phần cải thiện chất lượng sinh hoạt, nâng cao sức khỏe cho người dân nông thôn. Dưới góc nhìn của cơ quan xây dựng chính sách, thưa ông Nguyễn Vinh Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, ông đánh giá những nỗ lực đầu tư xây dựng này như thế nào?

Ông Nguyễn Vinh Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội
Ảnh: Lâm Hiển

Ông Nguyễn Vinh Hà: Việc cấp nước sạch cho người dân nói chung và cho người dân nông thôn nói riêng là nhiệm vụ quan trọng của chính quyền của Nhà nước ta, thể hiện đó là xu hướng của một xã hội văn minh, hiện đại.

Trong những năm gần đây, tỷ lệ người dân nông thôn đã được tiếp cận với hệ thống nước tập trung được tăng lên đáng kể. Theo báo cáo của ngành Nông nghiệp- phát triển nông thôn, có tới 44% người ở nông thôn được tiếp cận với hệ thống nước tập trung. Còn lại là các nguồn khác, trong đó có 15 % hệ thống cấp nước tập trung do Trung tâm Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường của UBND tỉnh quản lý vận hành, hơn 8% do các doanh nghiệp tư nhân quản lý vận hành, hơn 20% do các hợp tác xã, UBND các xã quản lý, còn lại là các hình thức quản lý khác thực hiện.

Cũng theo báo cáo của ngành nông nghiệp, các doanh nghiệp tham gia rất mạnh vào cung cấp nước sạch trên địa bàn nông thôn. Điều này phát huy nhiều hiệu quả như một số tỉnh: Nam Định, Bắc Giang, Hà Nam…

Về phương diện đầu tư, các địa phương đã đầu tư đã quan tâm và chú trọng đến việc cung cấp nước sạch. Nhiều địa phương đã đặt ra mục tiêu cung cấp nước sạch. Như Hưng Yên đặt mục tiêu đến năm 2020 thì mạng lưới cấp nước đạt 100% ở địa bàn nông thôn. Đây là quyết tâm chính trị rất lớn, góp phần xóa “mù” về nước sạch cho nông thôn.

Tuy nhiên, thời gian tới cũng cần quan tâm một số vấn đề, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong tổng hợp kiến nghị là tăng vốn đầu tư của nhà nước cho hạ tầng cung cấp nước sạch bên cạnh vốn mà doanh nghiệp đã bỏ ra để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia mạnh hơn nữa vào việc cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn.

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Nước sạch cho người dân là yêu cầu thiết yếu nhưng đi đôi nó là nguồn lực thực hiện. Thưa ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế, để nỗ lực nâng tỷ lệ bao phủ nước sạch, vấn đề cốt lõi có phải là tạo cơ chế cho doanh nghiệp tham gia và nâng cao nhận thức cho người dân về nhu cầu dùng nước sạch?

Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội
Ảnh: Lâm Hiển

Ông Nguyễn Đức Kiên: Tôi phải chia sẻ cảm xúc rất sốc, bởi tôi cũng là thành viên của Đoàn giám sát của QH về xây dựng NTM trong thời gian qua, nhưng đúng là với một tỉnh gạo trắng nước trong như Hưng Yên mà tỷ lệ sử dụng nước sạch tập trung mới chỉ đạt được đến 30%, tức là 1/3 dân số, thì đúng là một điều mà những người làm công tác vĩ mô cũng như điều hành trực tiếp cần phải ngồi lại với nhau xem vấn đề nằm ở đâu.

Đúng là có 2 nhóm vấn đề cho 2 phía: phía cơ quan quản lý nhà nước và phía người dân. Qua trao đổi của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên, chúng tôi thấy về cơ chế chính sách của tỉnh đến giờ đã tương đối đồng bộ, vấn đề là cần thời gian để thực hiện. Nhưng tôi thấy là từ năm 2010 đến nay là 8 năm, chúng ta không điều chỉnh giá nước. Đây là một vấn đề giữa quyền lợi của người dân, cơ quan quản lý nhà nước với nhà đầu tư, đứng về mặt kinh tế.

Nhóm vấn đề thứ 2, về phía người dân, phải thành thật mà nói công tác tuyên truyền của chúng ta với người dân sử dụng tiết kiệm nước như một nguồn tài nguyên còn bị buông lỏng, nên lãng phí trong sử dụng nước sạch là tương đối lớn. Đặc biệt nữa, chúng ta quen để cho người dân hiểu rằng nước được Nhà nước bao cấp, sử dụng nước và điện bao giờ cũng có sự hỗ trợ tối đa của Nhà nước. Điều này đặt ra vấn đề cần xem xét lại cơ chế chính sách, công tác tuyên truyền, để hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp, và người dân sử dụng nước sạch.

Hy vọng với những bước đột phá như vậy, đến năm 2020, với tiềm lực mạnh của Hưng Yên, về cơ bản chúng ta sẽ đạt được mục tiêu mà Trung ương đã đặt ra về sử dụng nước sạch.

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Nước sạch và vệ sinh môi trường là một trong những mục tiêu quan trọng nằm trong chương trình xây dựng nông thôn mới, vậy thưa ông Trần Nhật Lam, Phó Chánh văn phòng, Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương, để đạt được mục tiêu năm 2020 mạng lưới cấp nước sạch sẽ bao phủ tới 100% người dân, theo ông cần tập trung vào những vấn đề gì?

Ông Trần Nhật Lam, Phó Chánh văn phòng, Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương 
Ảnh: Xuân Sơn 

Ông Trần Nhật Lam: Nước sạch là một trong những nội dung quan trọng để đảm bảo mục tiêu quốc gia về NTM, cụ thể hóa chỉ đạo của Thủ tướng về NTM. Địa phương nào đạt NTM đều phải bảo đảm hệ thống nước sạch. Tôi cũng rất đồng tình với ý kiến của 2 đại biểu kể trên, tuy nhiên, tôi cũng xin bổ sung một số giải pháp để đạt mục tiêu chiến lược quốc gia về nước sạch, đó là 100% người dân được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn quốc gia. Tất cả các dân cư nông thôn đều có thể được cấp nước sạch, đảm bảo nước sạch và vệ sinh nông thôn.

Thứ nhất, để tăng hiệu quả, trước hết, chúng ta có thể thấy, nước ta có 7 vùng sinh thái, như vậy, có nhiều vùng có đặc thù khác nhau. Do đó, tôi nghĩ rằng, chúng ta nên chia các vùng ra thành nhiều điểm khác nhau, chẳng hạn như Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định… là các tỉnh đồng bằng, có mật độ dân số cao, khoảng 1.200 người/km2, do đó, công tác xã hội hóa về nước sạch rất tốt. Cũng vì nhận thức của người dân sử dụng nước sạch sinh hoạt cao, cho nên, đối với những khu vực này nên đẩy mạnh xã hội hóa. Tuy nhiên, đối với những khu vực như thế này thì có vấn đề cần giải quyết, đó là mức giá phải hợp lý. Về mức giá, cần có cơ chế thỏa thuận hợp lý hơn giữa doanh nghiệp và người dân.

Thứ hai, cần đẩy mạnh tuyên truyền người dân về sử dụng nước sạch. Thực tế, người dân đã có ý thức sử dụng nước sạch thì cũng cần phải có những cam kết sử dụng nước sạch lâu dài, để có những cam kết lâu dài này thì cũng cần có những hành lang pháp lý để đảm bảo người dân cam kết sử dụng nước sạch lâu dài.

Đối với khu vực dân cư đang phát triển, vùng trung du, cần tăng mức đầu tư cũng như tạo nguồn, đầu mối đối với sử dụng ngân sách của nhà nước. Bên cạnh đó, cần có cơ chế duy thu, vận hành bảo dưỡng đối với doanh nghiệp. Đồng thời, cũng nên xem xét chính sách để hỗ trợ một phần về giá nước cho các người dân ở khu vực này. Sau khi đã đủ điều kiện thì dần dần tiến tới xã hội hóa hoàn toàn…

Đối với vùng khó khăn, vẫn chưa thu hút được doanh nghiệp, do đó, cần hỗ trợ 100% đối với người dân khu vực này, tôi cho rằng, nếu không có hỗ trợ, khó mà huy động người dùng nước sạch 100%.

Còn đối với Hưng Yên, tôi cho rằng, những kết quả đạt được như vậy cũng là đáng khích lệ, tuy nhiên, cần tăng cường công tác thông tin truyền thông, trong đó, cần để người dân hiểu được lợi ích của nước sạch với sức khỏe của người dân, đặc biệt với trẻ em, cùng với đó, đẩy mạnh vai trò, trách nhiệm của cộng đồng trong việc giữ gìn sử dụng nước sạch gắn liền với vệ sinh môi trường.

Điều quan trọng thêm nữa là việc tăng cường phổ biến tuyên truyền cơ chế chính sách xã hội hóa đầu tư để các doanh nghiệp, nhà đầu tư có cơ hội tiếp cận những chính sách của tỉnh rõ nét hơn. Cuối cùng là tuyên truyền sự tham gia của người dân trong quá trình duy tu, vận hành những công trình nước sạch.

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Thưa TS Nguyễn Thanh Hà, Phó Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế, ông nhìn nhận thế nào về kết quả Hưng Yên đã đạt được trong việc “phủ sóng” nước sạch về nông thôn nhằm loại bỏ những nguồn nước kém vệ sinh, không an toàn cho sức khỏe trong sinh hoạt của người dân nông thôn?

TS Nguyễn Thanh Hà, Phó Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế
Ảnh: Lâm Hiển

Ông Nguyễn Thanh Hà: Như chúng ta đã biết, nước có vai trò hết sức quan trọng đối với sức khỏe của con người. Trong cơ thể con người nước chiếm tới 87% trọng lượng cơ thể, ngoài những chức năng như tham gia xây dựng tế bào, nuôi dưỡng tế bào, tham gia quá trình chuyển hóa mọi hoạt động trong cơ thể thì nước còn cung cấp các khoáng chất tự nhiên hết sức cần thiết cho sự hoạt động của cơ thể. Với vai trò đó, nước cũng góp phần nâng cao hiệu quả cũng như tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, gia đình, xã hội của mỗi gia đình, mỗi người dân thông qua việc giảm chi phí phòng bệnh, chữa bệnh cũng như nâng cao sức khỏe đối với trẻ em, giúp trẻ em được học tập tốt hơn và có những điều kiện phát triển, người lao động thì làm việc hiệu quả, năng suất lao động tốt hơn. Và từ đó, thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển bền vững.

Với số liệu của Hưng Yên chúng ta vừa nắm được thì tỷ lệ người dân có nước sạch là 67% và mới chỉ 2 năm vừa qua từ 20% mà tăng lên được mức đó. Tôi cho rằng đây là một bước tiến, một thành tựu hết sức khả quan và đáng ghi nhận trong việc triển khai hoạt động này; thể hiện rõ quyết tâm, sự vào cuộc cũng như hỗ trợ của chính quyền các cấp, ban, ngành tỉnh Hưng Yên để mang lại nước sạch cho người dân nông thôn, nhằm cải thiện cuộc sống, bảo vệ sức khỏe cho người dân. Với kết quả này thì cũng giúp việc thu hẹp dẫn đến xóa dần khoảng cách tiếp cận nước sạch giữa khu vực thành thị và nông thôn, đảm bảo sự bình đẳng trong việc tiếp cận sử dụng nước sạch của mỗi người dân.

Bên cạnh đó, tôi thấy rằng việc sử dụng nước sạch sẽ giúp cho việc phòng chống dịch bệnh của người dân Hưng Yên hiệu quả hơn và việc phòng chống các bệnh dịch qua đường tiêu hóa, các bệnh dịch qua đường nước sinh hoạt; nâng cao sức khỏe; tạo sự yên tâm, tin tưởng của người dân; góp phần ổn định, phát triển kinh tế, xã hội và góp phần xây dựng thành công cho chương trình NTM.

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Nguyễn Văn Tín, Giám đốc Công ty cổ phần nước sạch Hưng Yên, đến thời điểm hiện tại, khi triển khai chương trình này, doanh nghiệp có gặp phải có khó khăn, vướng mắc gì không, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Tín, Giám đốc Công ty cổ phần nước sạch Hưng Yên
Ảnh: Lâm Hiển

Ông Nguyễn Văn Tín: Đối với việc cấp nước ở Hưng Yên, UBND tỉnh và các sở, ban, ngành liên quan đã có những chỉ thị chặt chẽ trong triển khai việc cấp nước sạch ở vùng nông thôn nói riêng và ở tỉnh Hưng Yên nói chung. Tuy nhiên khi triển khai có những khó khăn nhất định đối với doanh nghiệp.

Thứ nhất, khi triển khai, mặc dù có chủ trương, chính sách, có chỉ đạo nhưng nhận thức của người dân về nước sạch là rất thấp. Thực tế đối với người dân ở nông thôn đã quen sử dụng nước giếng, nước mưa, nước không mất tiền, khi doanh nghiệp đưa nước sạch về và người dân phải trả tiền sử dụng gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì thế, theo tôi cần phải có công tác tuyên truyền, động viên của các cấp chính quyền, của hệ thống chính trị từ các ban, ngành, đoàn thể, chi bộ ở địa phương cần vào cuộc quyết liệt mới có thể tháo gỡ được khó khăn cho doanh nghiệp.

Thứ hai, ở Hưng Yên mật độ dân số thưa, tỷ suất đầu tư của doanh nghiệp lớn nhưng người dân thờ ơ với việc dùng nước sạch, có nhiều trường hợp lắp đồng hồ nhưng không dùng, tỷ lệ có đồng hồ nhưng không dùng nước lên tới 23%. Doanh nghiệp đầu tư nhưng không thu được lợi nhuận từ nước sạch, đây là khó khăn lớn ảnh hưởng đến doanh nghiệp khi thu hồi vốn. Việc càng đầu tư càng thâm hụt nguồn vốn là khó khăn lớn mà doanh nghiệp gặp phải. Vì vậy, phải nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng nước sạch. Bởi việc vốn đầu tư vào hộ nông thôn rất khó khăn, khi tiếp xúc với ngân hàng doanh nghiệp bị “quay lưng” vì thu không đủ chi, doanh thu thấp không có cơ sở để vay, không đủ lợi nhuận để trả nợ ngân hàng.

Đây là những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải khi triển khai đầu tư nước sạch ở nông thôn hiện nay, cần được các cơ quan chức năng vào cuộc hỗ trợ để đảm bảo mục tiêu tới năm 2020 đạt 80% hộ dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên sử dụng nước sạch. Và để đạt được tiêu chí này, theo tôi cần có hai giải pháp:

Thứ nhất, tuyên truyền thay đổi thói quen của người dân từ dùng nước không mất tiền sang nước mất tiền.

Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền về tác hại của việc dùng nước không kiểm soát và dùng nước có kiểm soát.

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Nước Sạch Ngọc Tuấn - Nagaoka, theo ông, làm thế nào để có nhiều doanh nghiệp tham gia cung cấp nước sạch cho người dân?

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Nước Sạch Ngọc Tuấn - Nagaoka
Ảnh: Lâm Hiển

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn: Tôi là một doanh nghiệp đại diện cho doanh nghiệp tư nhân tham gia để đầu tư, xử lý, xây dựng nhà máy tập trung cung cấp nước sạch cho các huyện Kim Động, Ân Thi sắp tới là Vĩnh Hào thuộc tỉnh Hưng Yên. Thực ra, đến nay trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có tới 13 doanh nghiệp cung cấp nước sạch cho các xã cũng như người dân toàn tỉnh, về cơ bản là đã đủ. Hiện tại, có 4 vấn đề các doanh nghiệp tham gia cung cấp nước sạch đang gặp vướng mắc:

Thứ nhất, doanh nghiệp tư nhân khi đầu tư, quan trọng nhất chính là nguồn vốn, là chìa khóa để thực hiện dự án nhanh hay chậm. Bản thân khi chúng tôi đầu tư thi công rất nhanh, nhưng việc vay vốn ngân hàng thương mại chưa có lãi suất ưu đãi nên gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai, là vấn đề ưu đãi một phần kinh phí liên quan đến cung cấp nước cho người dân tại nông thôn. Do mặt bằng của nông thôn nông thôn trải dài, xây dựng các hệ thống đường ống rất khó khăn, mật độ dân cư thưa thớt, đường ống truyền tải rất dài nên một số ưu đãi. Nhiều người dân chưa nhận thức được việc tham gia đóng góp một phần kinh phí để sử dụng nước sạch. Tôi nghĩ rằng vấn đề này phải có thời gian.

Thứ ba, chính là việc gần 8 năm qua giá nước chưa được điều chỉnh. Doanh nghiệp chưa được hỗ trợ, giá nước 8 năm nay vẫn sử dụng 6,8 nghìn đồng. Các doanh nghiệp tư nhân như chúng tôi hiện phải bù lỗ rất nhiều, trên 10.000 đồng/số. 

Thứ tư, là việc sử dụng của người dân. Mật độ sử dụng của người dân thực sự thấp, các hệ thống đường ống của doanh nghiệp đã đến trước cửa nhưng việc tham gia sử dụng nước sạch của người dân rất ít, rất hạn chế. Ví dụ, như ở nông thôn, tỷ lệ sử dụng nước sạch của mỗi một hộ gia đình chỉ dùng 2 - 3 khối nước/tháng, các doanh nghiệp hiện tại của chúng tôi thừa công suất. Tôi nghĩ trong thời gian tới đề nghị có những sự hỗ trợ một phần cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp bỏ 100% vốn để đầu tư nước sạch vào nông thôn.

Phó TBT Báo Đại biểu Nhân dân Nguyễn Quốc Thắng 
Ảnh: Lâm Hiển

Xã hội hóa ngành cấp nước - Gỡ nút thắt để thu hút nguồn lực

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Trong thời điểm hiện nay, khi ngân sách còn chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển hạ tầng xã hội thì việc huy động nguồn lực doanh nghiệp và nhân dân cùng đóng góp được Hưng Yên triển khai, bước đầu rút ngắn thời gian đạt mục tiêu sử dụng nước sạch của người dân nông thôn. Song việc xã hội hóa nước sạch nông thôn luôn là một khó khăn lớn đối với các cấp chính quyền và doanh nghiệp, bởi không phải người dân nào cũng hiểu lợi ích của việc sử dụng nước sạch trong sinh hoạt và chấp nhận nộp phí xã hội hóa. Dẫn đến việc, các DN kinh doanh nước sạch nông thôn rơi vào cảnh khó khăn vì thiếu vốn, hệ thống đường ống dàn trải nhưng tỷ lệ hộ dân đấu nối đồng hồ sử dụng nước thấp… Đặc biệt là những thắc mắc, kiến nghị của người dân về tính pháp lý trong việc thu phí đấu nối đồng hồ sử dụng nước đang là những thách thức lớn cho mục tiêu kế hoạch đề ra. 

Xin được hỏi ông Trần Nhật Lam, xã hội hóa là chủ trương lớn nhằm huy động nguồn lực giải quyết vấn đề dân sinh. Vậy ông đánh giá thế nào về phương thức xã hội hóa nước sạch nông thôn trong vài năm gần đây?

Ông Trần Nhật Lam: Phương thức xã hội hóa nước sạch nông thôn gần đây đã có nhiều chuyển biến rõ nét, có nhiều kết quả đạt được. Cụ thể, đã thu hút được nhiều doanh nghiệp tham gia, nâng cao tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch nông thôn, chuyển từ việc sử dụng nguồn nước không đảm bảo vệ sinh sang dùng nước sạch. Thứ hai là đã khắc phục được những hạn chế trong quản lý, đặc biệt sau đầu tư, công tác duy tu, bảo dưỡng. Cùng với đó, giảm áp lực ngân sách của nhà nước đầu tư cho hạng mục này. Cuối cùng, kết quả đạt được nữa là phát triển mạnh cơ chế cung cấp phục vụ sang cơ chế mới, đó là cơ chế dịch vụ.

Bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn những tồn tại, đó là nhận thức của người dân về sử dụng nước sạch, sự chưa đồng thuận của người dân và chính quyền, doanh nghiệp về giá. Cùng với đó, chất lượng nước, việc cung cấp thường xuyên chưa đầy đủ, tiêu chuẩn sử dụng nước của bà con chưa đảm bảo. Thứ ba, cơ chế tài chính hỗ trợ cho doanh nghiệp chưa được tốt. Mặc dù đã có cơ chế chính sách nhưng rõ ràng việc minh bạch, hướng tiếp cận các cơ chế chính sách đối với doanh nghiệp còn gặp không ít khó khăn.

Nhiều hộ dân không mấy mặn mà với nước sạch. (Trong ảnh: Ông Bùi Văn Thành, sống tại phố An Vũ, phường Hiến Nam, Hưng Yên cho biết: ăn nước mưa không hết nên không cần thiết dùng nước máy)
Nguồn: thuonghieucongluan.com.v

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Trong bối cảnh ngân sách nhà nước và địa phương còn khó khăn, theo ông Nguyễn Minh Quang cần những giải pháp cũng như cơ chế nào nhằm thu hút tối đa nguồn lực ngoài nhà nước đầu tư vào lĩnh vực cung cấp nước sạch trong thời gian tới?

Ông Nguyễn Minh Quang: Hiện 161 xã, thị trấn của Hưng Yên đều có nhà đầu tư, có thể nói môi trường đầu tư của Hưng Yên là hấp dẫn.

Về vấn đề thu hút nhà đầu tư, để công trình cấp nước hiệu quả, tôi đề xuất mấy ý kiến:

Thứ nhất, quy định pháp lý phải rõ ràng. Hiện nay Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ban hành từ năm 2007 và Nghị định số 124/2011/NĐ-CP ban hành năm 2011 về vấn đề sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch quy định: các doanh nghiệp phải đầu tư đồng bộ, bao gồm cả đồng hồ, người dân chỉ sử dụng trừ có thỏa thuận khác. Vấn đề là thỏa thuận khác là gì? Đây chính là xã hội hóa, sự tham gia của người dân. Nhưng hai nghị định này không được các cơ quan của TƯ: Bộ NN và PTNT, Bộ Xây dựng hướng dẫn vấn đề thỏa thuận này. Ngay cả thông tư của Bộ Xây dựng ban hành cũng không nói gì đến vấn đề thỏa thuận, chỉ nói vấn đề trách nhiệm doanh nghiệp phải đầu tư từ A->Z, người dân chỉ sử dụng nước. Bộ NN và PTNT cũng chưa có hướng dẫn gì. Hướng dẫn thỏa thuận như nào, mức thỏa thuận ra sao là phù hợp với người dân ở vùng nông thôn thì không có. Cho nên đây là cái khó. 

Mặc dù các quyết định của Thủ tướng Chính phủ như Quyết định số 131/QĐ-TTg, Quyết định số số 366/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 – 2015… đều đặt vấn đề là sự tham gia của người dân. Chương trình cấp nước và vệ sinh nông thôn dựa trên kết quả tại 8 tỉnh Đồng bằng sông Hồng (PforR) trong đó có Hưng Yên cũng đặt vấn đề nguồn huy động của người dân là 10%... nhưng hướng dẫn không có nên rất khó khăn cho tỉnh trong vấn đề quy định mức xã hội hóa như nào cho phù hợp. Chính vì vậy, tỉnh phải quy định một mức cụ thể đối với các doanh nghiệp là: huy động đấu nối đồng hồ tới người dân tối đa là 3.500.000, chứ không được hơn. Nếu không quy định thì sẽ có những doanh nghiệp thu 10.000.000 – 20.000.000 mới đấu nối được đồng hồ và người dân không có khả năng tiếp cận nước sạch.

Ngay cả hiện nay, một số quy định sửa đổi cũng “bỏ quên” luôn vùng nông thôn, chỉ chú ý đến đô thị, nên doanh nghiệp đầu tư vào không mặn mà. Ngay Nghị định số 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn cũng không đặt vấn đề nhiều về nước sạch. Đến vừa Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyên khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn mới đặt vấn đề này. Nhưng ngay Dự thảo thông tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng giao cho các Sở Kế hoạch xây dựng các danh mục và đầu tư. Nguồn lực đầu tư thì không quá 5% đầu tư phát triển. Đối với các tỉnh hiện nay ngân sách hạn chế thì hỗ trợ cho các doanh nghiệp là hết sức khó khăn. Rất có khả năng là các doanh nghiệp nước sạch dễ bỏ ra ngoài các dự án cần thiết. Đây là những vấn đề khó về cơ chế.

Thứ hai, vấn đề về giá nước. Bộ Tài chính có quyết định từ 2012 về giá nước tối đa là từ 2.000 – 11.000  đồng/m3, Hưng Yên áp dụng từ 2010 là 6.800 đồng/m3. Khi chưa có quyết định này của Bộ Tài chính thì đều giao cho các tỉnh quyết định về mức giá nước, nhưng khi có quyết định của Bộ, tỉnh cũng thấy giá nằm trong khung Bộ Tài chính quy định nên không điều chỉnh. Lý do nữa là tất cả các nhà máy nước được hình thành đều là các nhà máy nước hoạt động có sự hỗ trợ của Chương trình mục tiêu quốc gia, vay vốn ODA hoặc WB nên chi phí doanh nghiệp cũng thấp hơn. 

Thêm nữa, quy định tại Thông tư số 88/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính năm 2012 cũng quy định để xác định giá nước cho các doanh nghiệp, các doanh nghiệp phải xây dựng phương án giá nước trình tỉnh mới phê duyệt trên cơ sở tính đúng tính đủ. 13 doanh nghiệp này mới đầu tư vào tỉnh từ năm 2017. Chúng tôi thấy rằng 13 doanh nghiệp vào thì cần phải có sự điều chỉnh về giá nước. Không phải tỉnh vô cảm với các doanh nghiệp, hơn nữa tỉnh không có thẩm quyền quy định khung giá nước. Giá nước do Bộ tài chính quy định, nên có các doanh nghiệp tính giá nước 15.000 – 20.000/m3… nhưng phải nằm ở trong khung. Ở đây có câu chuyện như vậy.

Thứ nữa, công nghệ các nhà máy khác nhau, chi phí khác nhau, nhưng định mức quy định thì trong phương pháp tính có những vấn đề không rõ ràng. Có những định mức như thất thoát nước, ví dụ có những đơn vị thất thoát nước 40-50%, tức là sản xuất 2m3 mất 1m3... nhưng quy định của chúng ta là làm sao tiết kiệm nhất, đưa thất thoát xuống 10-15% thôi. Đây là vấn đề liên quan đến tính đúng, tính đủ. Chính vì thế tỉnh đã yêu cầu các doanh nghiệp phải có phương án tính đúng, tính đủ giá nước. Đặt vấn đề ở đây, tỉnh đã kịp thời yêu cầu các doanh nghiệp phải xây dựng lại phương án giá nước và chúng tôi sẽ điều chỉnh lại giá nước theo đề nghị của các doanh nghiệp trên cơ sở tính đúng, tính đủ và các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, giảm thất thoát, giảm chi phí để đưa giá nước về đúng quy định của Bộ Tài chính và để làm sao người dân tiếp cận được nước sạch.

Ảnh: Lâm Hiển

Về vấn đề liên quan đến chất lượng nước, doanh nghiệp cũng kêu nhiều về vấn đề này vì hiện có nhiều chỉ tiêu. Chỗ này cần điều chỉnh hợp lý cho các doanh nghiệp cấp nước.

Về trách nhiệm của tỉnh, chúng tôi đang xây dựng giá nước có tính đúng tính đủ cho doanh nghiệp. Thứ hai chúng tôi sẽ tập trung tuyên truyền, giao trách nhiệm cho các cấp, các ngành tuyên truyền người dân để có đấu nối sử dụng nước sạch, giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cho các doanh nghiệp cấp nước. Nhưng có cái bất hợp lý, bây giờ trong nghị định nói là mỗi doanh nghiệp được phân một vùng cấp nước và không chồng lấn, nhưng bây giờ nhiều doanh nghiệp yếu, vùng cấp nước có nhưng không triển khai, công nghệ không có nhưng vẫn khư khư giữ vùng cấp nước, tỉnh Hưng Yên đã yêu cầu doanh nghiệp nào không có điều kiện thì mời “anh” ra ngoài. Sắp tới chúng tôi sẽ điều chỉnh, nếu “anh” không làm được, “anh” phải liên kết, liên doanh với doanh nghiệp có đủ điều kiện, “anh” chuyển nhượng... Sắp tới, tỉnh sẽ cho chuyển nhượng hàng loạt... làm sao đảm bảo được cấp nước đủ cho người dân. Tỉnh đang chủ động và mục tiêu là hết 2018 đạt 80%, tỉnh sẽ tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp từ giá nước, cơ chế, tuyên truyền, vận động, giao trách nhiệm cho các cấp chính quyền nhưng doanh nghiệp phải thể hiện trách nhiệm của mình.

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Nguyễn Vinh Hà, thực tế ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề, nguồn nước phục vụ các nhà máy xử lý nước sạch ngày càng khan hiếm, những năm qua, chúng ta đã đầu tư xứng tầm cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học, kỹ thuật mới để khai thác nước sạch phục vụ người dân nông thôn?

Ông Nguyễn Vinh Hà: Qua giám sát và nghiên cứu các tài liệu, tôi thấy, trong những năm vừa qua, nhà nước đã đầu tư vào công việc nghiên cứu, ứng dụng KHCN để khai thác, sản xuất nước sạch cung cấp cho khu vực nông thôn rất lớn, đầu tư một khoản tiền “đúng tầm”. Nhiều tiến bộ KHCN đã được áp dụng để kiểm soát, ngăn ngừa những rủi ro xảy ra trên hệ thống cấp nước như kiểm soát được việc xâm ngập mặn, ứng phó được với sự cố khẩn cấp của nước mặt và nước ngầm thông qua biện pháp kiểm soát chất lượng nước trên các dòng sông và hệ thống quan trắc online, phối hợp với các hồ đầu nguồn để đẩy nước mặn xử lý ô nhiễm, hoặc hạn chế việc khai thác và chuyển đổi một số nguồn nước ngầm sang bằng việc sử dụng nguồn nước dự phòng. Đồng thời, cũng giảm được các sự cố xảy ra với các nhà máy nước liên quan đến công trình xử lý và trang thiết bị thông qua nhiều giải pháp như cải tạo nâng cấp hệ thống quản lý vận hành và tối ưu hóa chế độ vận hành như đầu tư biến tần cho các trạm bơm của các nhà máy nước. Hoặc chúng ta xử dụng hóa chất xử lý nước mới có hiệu quả cao và cải tạo hệ thống cung cấp nước rất tốt. Đây là phần của Nhà nước.

Đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước, chủ yếu là các doanh nghiệp cấp nước thì các doanh nghiệp cũng đã và đang không ngừng học hỏi để ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong xử lý các nguồn nước đặc thù như nguồn nước biển, nước mưa, nước bị nhiễm phèn, nước bị ô nhiễm do tự nhiên hay do nhân tạo thành nguồn nước sạch để phục vụ cho vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

Tuy vậy, đây là bài toán mà việc nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao cũng mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, ứng dụng và thử nghiệm. Có nhiều nguyên nhân từ chủ quan và khách quan đó là giá thành, chi phí, kỹ thuật, vận hành và các điều kiện phụ trợ nên việc phổ biến và nhân rộng các ứng dụng tiến bộ của KHCN trong xử lý nước để làm nước sạch cho khu vực nông thôn vẫn còn khó khăn, đây là điều mà chúng ta cần phải xử lý.

Trạm cấp nước sạch nông thôn ở huyện Phù Cừ.
Nguồn: baomoi.com

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Thông tư liên tịch số 37/2014/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT của liên Bộ NN - PTNT - Bộ Tài chính - Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện Quyết định số 131/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn quy định: các doanh nghiệp đầu tư vào các công trình nước sạch nông thôn sẽ được hưởng một số ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ vốn và huy động vốn, hỗ trợ bù giá nước sạch nông thôn. 

Tại Thái Bình, cách đây khoảng 4 năm  (2012 - 2016), tỉnh đã quyết định không dùng vốn của chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn để kêu gọi sự vào cuộc của các doanh nghiệp trên địa bàn. 55 nhà máy nước sạch trên địa bàn 8 huyện, thành phố được tỉnh Thái Bình tạo điều kiện tối đa. Doanh nghiệp không những không mất tiền thuê đất trong 50 năm mà còn được tỉnh hỗ trợ khoảng 30% kinh phí đầu tư. Sự vào cuộc của chính quyền, sự đồng hành của doanh nghiệp và người dân đã góp phần  mang lại những hiệu quả  tích cực và bền vững cho phong trào xã hội hóa nước sạch ở Thái Bình. Gần 100% người dân Thái Bình đã có nước sạch để sử dụng theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Tất cả đường ống đều lắp đặt tới trước cửa nhà dân.

Thưa ông Nguyễn Đức Kiên, trong khi tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch trên toàn quốc mới chỉ chiếm khoảng 50% thì riêng tại Thái Bình lại lên tới gần 100%. Theo ông, có được điều này có phải do những ưu đãi khá cụ thể cho các doanh nghiệp đầu tư vào nước sạch nông thôn của Thái Bình tận dụng tốt hơn khu vực khác?

Ông Nguyễn Đức Kiên: Trong quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, Thái Bình đúng là một trong những điển hình, kể cả trong quá trình xây dựng điện đường trường trạm, cũng như chính sách cho nông thôn mới.

Qua số liệu đã nêu, có thể thấy tập thể lãnh đạo Thái Bình đã đặt ra nhiệm vụ hết sức cụ thể và trọng tâm trong từng thời kỳ. Và trong thời kỳ 2012 – 2016, trọng tâm của Đảng bộ và chính quyền Thái Bình chính là tạo ra khâu đột phá trong xử lý nước sạch, qua đó, Thái Bình đã hoàn thành chỉ tiêu nước sạch đối với chương trình xây dựng nông thôn mới.

Đứng dưới góc độ kinh tế, mỗi địa phương có đặt ra nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời kỳ khác nhau. Nên cách thức tổ chức thực hiện cũng tương đối khác. Chúng ta đã nghe thấy ông Nguyễn Minh Quang, Phó Chủ tịch UBND Hưng Yên nói về kế hoạch của Hưng Yên trong những tháng cuối 2018 và kế hoạch triển khai 2 năm còn lại để thực hiện mục tiêu đã được đặt ra trong chương trình nông thôn mới. Có thể thấy ngay trong năm 2019, Hưng Yên quyết tâm đưa tỷ lệ nước sạch lên đến 90%. Hưng Yên đã chuẩn bị được nguồn lực, chuẩn bị được nhà đầu tư và cơ chế ưu đãi, và làm một cách đồng bộ, cùng lúc triển khai. Chính sách ưu đãi là đồng đều với doanh nghiệp, với nhà đầu tư khi tham gia vào chương trình cung ứng nước sạch.

Chúng ta thấy một trong những vấn đề cần lưu ý đó là: giá nước sạch của Bộ Tài chính công bố đặt ra khoảng biến thiên rất rộng, ở từng địa phương có quyết định về giá nước ở từng khu vực đó. Tôi nhớ lại nhiệm kỳ 2007 – 2010, khi tôi phụ trách UBND tỉnh Sóc Trăng, trong một tỉnh cũng có nhiều loại giá nước, ở thành phố Sóc Trăng, tỉnh lỵ thì giá khác, ở vùng đang bị dịch bệnh đau mắt, sốt xuất huyết, vùng đồng bào dân tộc ít người thì gần như chúng tôi trợ cấp, hỗ trợ cho nhà đầu tư từ tiền giải phóng mặt bằng, hỗ trợ vận động nhân dân không mất tiền đền bù thi công đường ống. Chúng tôi cũng giao cho tổ chức chính trị giám sát sao cho việc thiết kế đường nước gần nhà dân nhất, phù hợp cho khoảng cách đấu nối từ đồng hồ vào nhà dân (phần này dân tự bỏ tiền ra làm) sao cho dân bỏ kinh phí ít nhất, vì có gia đình đồng bào Khmer nói thẳng là nếu quá xa họ lấy nước ngay từ gần đồng hồ, chứ không kéo vào nhà.

Mỗi địa phương có cách vận dụng khác nhau, nhưng tôi thấy chính quyền phải sát cánh và quan tâm đến lợi nhuận doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không bảo toàn vốn thì không nhà đầu tư nào tham gia vào chương trình cung ứng, vì họ là nhà đầu tư chứ không phải là đơn vị sự nghiệp công làm theo kế hoạch đầu tư của nhà nước. Có thể thấy, phải có cái nhìn sát với thực tế thì mới có đột phá trong cung ứng nước sạch cho người dân.

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Nguyễn Văn Tín, từ hiệu quả của mô hình xã hội hóa nước sạch tại Thái Bình, theo ông mấu chốt để người dân đồng thuận, hiểu lợi ích của việc sử dụng nước sạch và chấp nhận nộp phí xã hội hóa là gì?

Ông Nguyễn Văn Tín: Từ hiệu quả của mô hình xã hội hóa nước sạch tại Thái Bình thời gian qua tỉnh Hưng Yên cũng đã chỉ đạo rất quyết liệt nhằm triển khai việc cấp nước cho vùng nông thôn nói riêng và toàn tỉnh nói chung. Về phía doanh nghiệp, chúng tôi cũng bắt đầu thực hiện triển khai theo kế hoạch của tỉnh, tuy nhiên để người dân đồng thuận, thay đổi nhận thức về sử dụng nước sạch, thực hiện chủ trương xã hội hóa nước sạch trên toàn tỉnh thì cần triển khai những việc sau:

Thứ nhất, tỉnh cần có chính sách rõ ràng cụ thể để người dân hiểu và đồng thuận, tránh sự hiểu lầm.

Thứ hai, công tác tuyên truyền vận động người dân cần thực hiện đồng bộ, coi việc để người dân sử dụng nước sạch là nhiệm vụ, trách nhiệm của các cấp chính quyền. Khi các cấp chính quyền thực hiện đúng nhiệm vụ, trách nhiệm của mình, đồng nghĩa với việc thực hiện tuyên truyền vận động người dân thay đổi phong tục tập quán, đồng thuận trong việc ủng hộ doanh nghiệp sử dụng nước sạch và chương trình nước sạch nông thôn được tỉnh đặt ra.

Thứ ba, có cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để doanh nghiệp tồn tại, đứng vững và đủ sức để phục vụ người dân. Đây là một yếu tố quan trọng, cần được hỗ trợ từ chính sách của tỉnh về nguồn vốn, nguồn lực, cơ chế chính sách khác để doanh nghiệp yên tâm cùng địa phương khắc phục những khó khăn.

Thứ tư, tỉnh Hưng Yên cần có chính sách nghiêm cấm đối với những nguồn nước không đảm vệ sinh, những nhà máy chưa bảo đảm chất lượng nước vì cuộc sống của người dân, vì sức khỏe người dân

Những chính sách này nếu được thực hiện đồng bộ, quyết liệt sẽ thay đổi phong tục, tập quán của người dân, doanh nghiệp yên tâm đầu tư.

Ảnh: Lâm Hiển

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Lê Trung Cần, được biết HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết 103/2017/NQ-HĐND nhằm thu hút đầu tư xã hội hóa. Tuy nhiên, quan trọng vẫn là sự vào cuộc quyết liệt và đồng bộ của các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp đầu tư công trình nước sạch nông thôn giải quyết những khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ hoàn thành cung cấp nước sạch phục vụ nhân dân?

Ông Lê Trung Cần: Đúng như các đại biểu đã nêu, cần sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành từ chính quyền tới cơ sở, không để doanh nghiệp đơn thương độc mã trong vấn đề này. Để giải quyết vấ đề này, tôi thấy có 3 vấn đề cần làm rõ: 

Thứ nhất, về tuyên truyền, ngoài việc tuyên truyền để người dân thấy được sự cần thiết của lợi ích việc dùng nước sạch, thì việc đẩy mạnh tuyên truyền để người dân thấy được việc đồng thuận sử dụng sẽ góp phần hạ giá thành nước, người dân sẽ sớm tiếp cận với sử dụng nước sạch. Tuy nhiên, chính quyền cũng cần kiểm soát được định mức đóng góp, phù hợp với đóng góp của dân. Và phải công khai đóng góp. 

Thứ hai, là bài toán giải quyết về giá, thời gian qua chúng tôi đã đôn đốc doanh nghiệp làm thế nào mức giá phải hài hòa, bảo đảm để thu lại lợi ích cho doanh nghiệp vừa hợp túi tiền của người dân, nếu giá quá cao thì người dân không có cơ hội sử dụng. Phải kéo gần sự chênh lệch giữa địa bàn của các doanh nghiệp để đưa mức giá ở mức phù hợp điều kiện người dân. 

Thứ ba, quản lý chặt chẽ của các doanh nghiệp trên các địa bàn, để doanh nghiệp, đơn vị nào làm tốt thì khuyến khích hoạt động, còn doanh nghiệp nào làm không tốt thì báo cáo với UBND tỉnh xử lý.

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Nguyễn Vinh Hà, một khảo sát tại 24 tỉnh cho thấy, những công trình cấp nước sạch nông thôn bền vững do tư nhân quản lý chiếm tỷ lệ khoảng 70%. Vậy, Việt Nam đã xây dựng được khung pháp lý đủ hấp dẫn để doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cấp nước sạch nông thôn hay chưa?

Ông Nguyễn Vinh Hà: Chúng ta đã có khung pháp lý về xã hội hóa về cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn. Đó là Quyết định 131/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư công trình cấp nước tập trung ở nông thôn. Chính phủ cũng có Nghị định 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư và rất nhiều văn bản khác.

Các địa phương căn cứ vào các văn bản này đã tham mưu đề xuất nhiều chính sách phù hợp cho từng địa phương như Bắc Giang, Thái Bình, Hà Nam… Qua triển khai thực hiện các chính sách này đã phát huy nhiều tác dụng. Nhiều doanh nghiệp ngoài nhà nước đã tham gia đầu tư trong lĩnh vực này. Tuy vậy, qua thực hiện, một số nơi nhận định, chính sách chưa thực sự có hiệu quả, thủ tục hành chính còn phức tạp, nhiều cấp trung gian, thông tin nhiều nơi còn chưa công khai. Các chính sách ưu đãi như tín dụng, miễn giảm thuế, bù giá nước chưa thống nhất. Đặc biệt, các chính ưu đãi cho vùng đặc thù cho xã khó khăn, biên giới, hải đảo không có sự thu hút của khối tư nhân. Trong hoạt động cấp nước chưa được tốt. Các khiếm khuyết này chúng ta phải cố gắng sửa để chính sách phát huy hiệu quả hơn.

Ảnh: Xuân Sơn 

Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng: Thưa quý vị và các bạn!

Chủ trương của Chính phủ từ nay đến năm 2020 là đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực cấp nước sinh hoạt ở nông thôn, tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, khai thác, quản lý và kinh doanh các công trình, dịch vụ cấp nước sinh hoạt nông thôn. Vấn đề đặt ra là việc khuyến khích và kêu gọi xã hội hóa là cần thiết nhưng phải có những cơ chế mở, ưu đãi thiết thực hơn nữa đối với doanh nghiệp tư nhân trong việc vay vốn. Trong thời gian rất ngắn, các ý kiến của các nhà quản lý, nhà lập pháp, các chuyên gia, doanh nghiệp tại buổi tọa đàm hôm nay sẽ là một kênh thông tin quý báu để các cấp, các ngành, địa phương nỗ lực rút ngắn thời gian đạt mục tiêu sử dụng nước sạch của người dân nông thôn.

Một lần nữa, trân trọng cảm ơn các vị khách quý đã tham gia Tọa đàm ngày hôm nay và mong được gặp lại trong lần đối thoại lần sau.

Xin trân trọng cảm ơn!

-----------------------------------

* Bản quyền thuộc về Báo Đại biểu Nhân dân. Mọi hình thức sao chép đều phải dẫn nguồn.

ĐBND
Xem tin theo ngày:
LAO ĐỘNG
16:06 31/10/2019
Với tinh thần “thượng tôn pháp luật, đồng thuận chấp hành, chủ động sáng tạo”, là nguyên lý “thuận tự nhiên”, tạo ra không khí phấn khởi, thoải mái, vui tươi cho người lao động, anh em tự ý thức “làm hết việc chứ không chờ hết giờ”, “mình vì mọi người”… là phương châm được TS Nguyễn Ngọc Thạch, Giám đốc Cảng vụ Đường thủy nội địa Khu vực III quán triệt đến từng cán bộ trong đơn vị.
Quay trở lại đầu trang