XÃ HỘI
Cập nhật 12:00 | 16/09/2019 (GMT+7)
.
Sổ tay

Kiểm soát chất lượng nhân lực ngành y

09:19 | 22/08/2018
Nghị quyết số 20-NQ/TW (Hội nghị Trung ương 6, Khóa XII) về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện công tác đào tạo nhân lực y tế, đáp ứng yêu cầu cả về y đức và chuyên môn trong điều kiện chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, thực tế công tác đào tạo bác sĩ của nước ta còn bộc lộ nhiều bất cập, đòi hỏi ngành y tế sớm hoàn thiện cơ chế chính sách để đổi mới nhanh, toàn diện nhằm kiểm soát tốt chất lượng y tế.

Tại Hội thảo “Đổi mới nhân lực y tế” do Bộ Y tế tổ chức mới đây, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, trong 5 năm qua, số lượng các loại hình đào tạo nhân lực y tế của Việt Nam tăng đáng kể: Từ 7,2 (năm 2010) lên trên 8,0 (năm 2017), số dược sĩ đại học tăng từ 1,76 (năm 2010) lên khoảng 2,5 (năm 2017)... Tuy nhiên, hiện công tác đào tạo nguồn nhân lực y tế bộc lộ nhiều yếu kém như: Mạng lưới các cơ sở đào tạo và số lượng các cơ sở đào tạo tăng nhanh, tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn với sự tham gia đào tạo nhân lực y tế của các trường đa ngành; Quy mô đào tạo tăng nhanh, nhưng các tiêu chí chuyên môn để mở ngành ở các trường đa ngành, đặc biệt là trình độ trung cấp (đối với y sĩ, điều dưỡng, dược) chưa chặt chẽ. Chương trình đào tạo hầu hết vẫn chưa được điều chỉnh, chủ yếu vẫn dựa trên chương trình đào tạo nặng về kiến thức lý thuyết...

Thực tế, việc đào tạo nhân lực y tế hiện đang “khoán trắng” cho các trường. Các cơ sở đào tạo tự xây dựng chương trình, tự đánh giá kết quả và tự công bố chất lượng nhân lực mà mình đào tạo. Nơi sử dụng nguồn nhân lực y tế (các bệnh viện) buộc phải sử dụng những sản phẩm đào tạo như vậy. Trong khi, tại các nước đều có một tổ chức độc lập thẩm định năng lực tối thiểu phải đạt trước khi nguồn nhân lực đó tham gia công tác khám, chữa bệnh - một số chuyên gia y tế nêu thực trạng.

Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách y tế (Bộ Y tế) Trần Ðức Thuận cũng cho rằng, chương trình, nội dung đào tạo y khoa và áp dụng phương pháp giảng dạy đánh giá mới ở nước ta nhìn chung còn chậm. Trong khi đó, nhiều kỹ thuật và phương pháp chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, theo dõi và phục hồi chức năng liên tục được phát triển, ứng dụng, đòi hỏi chương trình và nội dung đào tạo phải liên tục được cập nhật... Đây chính là căn nguyên của thực trạng dù số cơ sở, thiết bị máy móc y tế ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng, nhưng đội ngũ y bác sĩ vẫn chưa được chuẩn hóa đồng bộ, nhất là đội ngũ y bác sĩ tại tuyến cơ sở chưa khiến người dân hài lòng về trình độ chuyên môn cũng như y đức...

Trước những thách thức đó, các chuyên gia y tế cho rằng, để bảo đảm chất lượng y tế, việc đổi mới căn bản, toàn diện công tác đào tạo nhân lực y tế, đáp ứng yêu cầu cả về y đức và chuyên môn trong điều kiện chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là cần thiết. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết: Tới đây ngành y tế sẽ đổi mới đào tạo nhân lực y tế đi sâu vào đổi mới một số chương trình đào tạo chủ chốt theo hướng hình thành năng lực nhằm tạo ra nguồn nhân lực y tế đáp ứng với mô hình bệnh tật và hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, gắn đào tạo với sử dụng nhân lực y tế. Đồng thời tiến hành nghiên cứu và đề xuất mô hình đào tạo ngành y, dược; tập trung điều chỉnh chương trình đào tạo chuyên khoa sau đại học, gắn kết quả đào tạo chuyên khoa với ngạch bậc viên chức y tế, bổ nhiệm chức vụ chuyên môn, đưa hệ đào tạo bác sĩ chuyên khoa chính thức vào hệ thống giáo dục đại học...

Song thiết nghĩ, để kiểm soát chất lượng đội ngũ cán bộ y tế, hệ thống chính sách đào tạo và sử dụng nhân lực y tế phải được hoàn thiện, đổi mới một cách đồng bộ. Nên thành lập hội đồng y khoa quốc gia, tổ chức thi, cấp chứng chỉ hành nghề có thời hạn phù hợp thông lệ quốc tế. Song hành đó, thí điểm giao cho cơ quan độc lập tổ chức cấp chứng chỉ hành nghề y, dược. 

Trần Hải
Xem tin theo ngày:
LAO ĐỘNG
08:09 13/09/2019
Cùng với quá trình hội nhập, gần đây, số lượng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có xu hướng tăng qua các năm. Để tăng cường quản lý về vấn đề này, nhiều ý kiến cho rằng, bên cạnh xây dựng hành lang pháp lý, các cơ quan quản lý phải kiểm soát chặt việc cấp giấy phép cho các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài, đồng thời tăng cường tuyên truyền phổ biến pháp luật cũng như ý thức chấp hành của doanh nghiệp, cơ quan sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam.
Quay trở lại đầu trang