XÃ HỘI
Cập nhật 00:02 | 23/09/2019 (GMT+7)
.

Nâng cao chất lượng quy hoạch thủy lợi tại Đồng bằng sông Cửu Long(1)

07:30 | 06/03/2011
Ở thời điểm này, nhiều bộ ngành trình Thủ tướng Chính phủ danh sách các dự án công trình cần đưa vào quy hoạch 2011-2015 có nhìn đến 2020. Muốn cho chủ trương tiết kiệm đầu tư công đạt mục tiêu, các dự án công trình đưa vào quy hoạch phải đáp ứng một số yêu cầu mà bài viết này đề cập, có liên hệ cụ thể với quy hoạch thủy lợi tại Đồng bằng sông Cửu Long.


Nguồn: baokinhteht.com.vn

Siết chặt chi tiêu công là một biện pháp để kiềm chế lạm phát. Song siết chặt chưa có nghĩa là các khoản chi đều mang lại hiệu quả, đóng góp vào việc nâng cao chất lượng của tăng trưởng.

Ở thời điểm này, nhiều bộ ngành trình Thủ tướng Chính phủ danh sách các dự án công trình cần đưa vào quy hoạch 2011-2015 có nhìn đến 2020. Muốn cho chủ trương tiết kiệm đầu tư công đạt mục tiêu, các dự án công trình đưa vào quy hoạch phải đáp ứng một số yêu cầu mà bài viết này đề cập, có liên hệ cụ thể với quy hoạch thủy lợi tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Có hai yêu cầu bức xúc đối với quy hoạch thủy lợi ở địa bàn này: tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu – nước biển dâng (BĐKH-NBD); và bố trí những dự án công trình vào thời điểm thích hợp, sớm đi vào hoạt động có hiệu quả, bảo đảm cho ĐBSCL phát triển bền vững.

Với số lượng dự án công trình dự kiến, tổng vốn đầu tư trong 10 năm 2011-2020 ước tính đến vài trăm ngàn tỷ đồng. Số tiền tuy lớn, nhưng nếu các dự án công trình sớm phát huy tác dụng, xã hội sẵn sàng chấp nhận việc chi này. Những nội dung sau đây nhằm góp phần tinh chọn các dự án công trình cần đưa vào quy hoạch. 

1. Tác động kép của biến đổi khí hậu tại ĐBSCL, từ nguồn và từ biển, cần được hiểu và thể hiện qua quy hoạch.

Thực tế cho thấy hai tác động từ nguồn và từ biển vẫn được xem xét riêng lẻ. Chủ yếu hai kịch bản đầu vào, một lũ lớn, và một lũ nhỏ, được xem xét ứng với nhiều kịch bản nước biển dâng (NBD). Chưa đủ vì sự giao thoa giữa nguồn nước đầu vào và mực nước biển tại đồng bằng tùy thuộc vào mối tương quan giữa chúng. Hơn thế nữa, nguồn nước đầu vào có liên quan đến mực nước biển dâng thực tế tại châu thổ.

2. Quy hoạch cần dự kiến đầy đủ các tác động từ thượng nguồn đối với sông Mêkông và dự báo hậu quả đối với ĐBSCL.

Các đập được xây dựng ngày càng nhiều trong lưu vực sông Mêkông. Trên thượng lưu vực không phải chỉ có 8 đập mà là 21 đập đã, đang và sẽ được xây dựng. Trên dòng chính hạ lưu vực sông Mêkông có 12 đập. Theo đà này, dòng chảy tự nhiên của sông Mêkông sẽ được thay thế dần bằng dòng chảy bậc thang bị chế định bởi sự vận hành của chuỗi các đập.

Nhìn tổng thể, ĐBSCL, châu thổ sông Mêkông trên lãnh thổ Việt Nam, gánh chịu nhiều tác động bất lợi nhất.

Sự thay đổi chế độ thủy văn vừa nói, cùng với các dự án chuyển nước, các dự án thủy nông nhằm thâm canh tăng vụ ở các nước thượng nguồn, đặc biệt ở sát bên cạnh Việt Nam, chắc chắn sẽ dẫn đến những thay đổi sâu sắc nguồn nước đầu vào tại Tân Châu và Châu Đốc và lũ tràn hàng năm trong mùa mưa vào Đồng Tháp Mười và vào Tứ giác Long Xuyên.

Thậm chí lượng nước đầu nguồn về giảm có thể dẫn đến xì phèn ở ĐBSCL trong mùa kiệt ở các vùng mà tầng đất phèn hoạt động hoặc tiềm tàng nằm không sâu.

3. Phù sa là một yếu tố sống còn đối với mọi châu thổ sông, cần được quan tâm đúng với tầm quan trọng của nó.

Không chỉ có chế độ thủy văn bị thay đổi bởi việc xây dựng các đập ở thượng nguồn mà lượng phù sa (cả nguồn thủy sản nữa) sẽ giảm vì bị lắng đọng tại mỗi đập.

Lượng phù sa giảm sẽ tác động đến độ phì của đất, đến địa mạo của dòng sông, đến sự bồi xói đường bờ, đến vùng cửa sông và đường bờ biển. Lượng phù sa giảm còn làm mỏng đi lớp phù sa hàng năm phủ trên mặt châu thổ. Hai hệ quả này liên quan trực tiếp đến độ cao mặt đất đối với mực nước biển, một thành phần của mực nước biển dâng thực tế(3).

4. Cần quan tâm hơn nữa đến bờ biển và chế độ triều trong Vịnh Thái Lan.

Bờ biển phía Tây, từ Mũi Cà Mau đến Mũi Nai (Hà Tiên) dài gần 350 km. Ở đây có khoảng 150 đảo và quần đảo là những đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp nhất của mực NBD.

Bờ biển phía Tây bị xâm thực, có nơi khá mạnh trong mấy năm vừa qua, kể cả tại mốc tọa độ Mũi Cà Mau. Rừng ngập mặn rất xơ xác. Nhiều đoạn đê biển dọc Biển Tây đã và đang bị xói lở nghiêm trọng ở một địa bàn mà biên độ triều bình quân chỉ vào khoảng 75cm.

Trong khi đó tác động của con người qua việc lấn biển khá quy mô tại Rạch Giá và tại Hà Tiên, và qua việc xây dựng các cống dọc theo bờ biển, từ Rạch Giá đến Kiên Lương để ngăn mặn và thoát lũ từ sông Hậu và Kênh Vĩnh Tế về lại chưa được nghiên cứu.

Xử lý số liệu thủy văn tại các trạm Xẻo Rô và Rạch Giá từ năm 1978 đến 2010 cho thấy tốc độ NBD ngày càng nhanh. Có mối tương quan nào giữa các sự việc này?

5. Khi đề xuất các công trình, cần có quan điểm hệ thống và động. Luận cứ của các dự án công trình đưa vào quy hoạch phải có nền tảng khoa học cần thiết.

Phản ứng của tự nhiên đối với một công trình không chỉ có tức thì mà có một khoảng thời gian trễ, không chỉ tại chỗ mà rộng trong vùng ảnh hưởng của công trình.

25 năm sau khi hoàn tất năm 1976 hệ thống các công trình Delta Works, người Hà Lan đo được sự sụt lún của nhiều đoạn đê, và những thay đổi về môi trường không mong đợi. Nhiều nơi đã phải đương đầu với việc nước thẩm thấu qua đê. Sau gần 100 năm, môi trường nước và tài nguyên thủy sản ở IJsselmeer, phía bên trong con đê Afsluitdijk đã khác đi cơ bản, lợ và phú dưỡng, không thể đảo ngược mặc dù ở hai đầu đê có hai âu thuyền và 25 cống.

Trước thực tế này và trong bối cảnh BĐKH - NBD, ở Hà Lan, cũng như ở các Tây Bắc Âu khác, từ cuối thế kỷ XX, đã có một chuyển biến quan trọng trong nhận thức và cách tiếp cận đối với hệ thống an toàn về nước, mà rõ rệt nhất là: (1) Hệ thống đảm bảo an toàn không chỉ có các giải pháp công trình; (2) Không thể ngăn ngừa mọi tình huống mực nước cao nhưng có thể hạn chế cao nhất các thiệt hại. Chính từ đây mà “dành không gian cho các con sông” thay cho thuần phục chúng, và “chỉ có các công trình cứng thu hẹp mối quan hệ tự nhiên giữa biển và đất liền”(4).

6. Biến đổi khí hậu là tai họa. Nước biển dâng là một thách thức lớn lao đối với sản xuất và đời sống của người dân ĐBSCL.

Tuy nhiên NBD không phải ở nơi nào, lúc nào cũng là tai họa vĩnh viễn. Nếu NBD kéo theo xâm nhập mặn thì NBD cũng là sự gia tăng năng lượng triều truyền vào châu thổ có lợi cho việc đưa nước từ thượång nguồn về vào sâu trong nội đồng là một ví dụ. Ứng phó, khai thác NBD ra sao tùy thuộc vào con người và không chỉ bằng biện pháp công trình. Thành phố Venise ngập, nông sâu theo triều, không hẳn là một tai họa cho người dân nơi đây và cho nước Ý. Được bảo vệ nhưng thành phố New Orleans vẫn bị ngập vì Katrina và lâu sau cơn bão nước vẫn chưa rút ra hết.

Nhận thức đúng thách thức, huy động sức dân cộng với áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ để dự báo, mô phỏng, đưa ra các biện pháp có cơ sở khoa học, có hiệu quả không chỉ nhằm thích nghi và ứng phó, mà còn để vươn tới một hệ thống sản xuất nông nghiệp phát thải thấp, một phương thức quần cư thích hợp, một quy hoạch phát triển đô thị thích ứng với một vùng đất thấp, nền đất yếu, chi chít sông rạch, và một hệ thống giao thông thủy bộ thuận tiện.

7. NBD là một quá trình tiệm tiến. Hãy biết sử dụng quỹ thời gian này để làm tốt công tác quy hoạch bao gồm cả biện pháp công trình lẫn biện pháp phi công trình.

Cả hai loại biện pháp đều cần đến chất xám, đến khoa học (tự nhiên và kỹ thuật, nhân văn và xã hội) và công nghệ. Có rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu xuất phát từ thực tế, mà cách giải quyết đòi hỏi một sự tiếp cận liên ngành. Đây là một luồng đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, am tường thực tế đất nước.

8. Hợp tác quốc tế, học tập kinh nghiệm thế giới là cần thiết nhưng đi đến quyết định phải từ thực tế của đất nước.

Đối với ĐBSCL, thực tế đó là: + ĐBSCL chưa sống dưới mực nước biển; + ĐBSCL bị uy hiếp nghiêm trọng nhưng mực NBD là một quá trình tiệm tiến, không tức thì; + Người dân đã có kinh nghiệm chung sống với lũ, và cũng đã quen chung sống với mặn.

Trước mối đe dọa sẽ đến dần, ĐBSCL có nên ngay từ bây giờ “tự nhốt” mình bằng các công trình quy mô khi chưa nghiên cứu thấu đáo các mặt được mất? Có giải pháp nào khác không ?

Không phải là chọn thái độ đủng đỉnh, chủ quan, nhưng ĐBSCL có thời gian để suy tư trên thực tế của chính mình, chuẩn bị ứng phó, tổ chức và chọn ra các phương thức thích nghi tối ưu kết hợp biện pháp công trình và phi công trình cho chính mình. Chỉ trong điều kiện đó, chúng ta mới khai thác được chất xám của chuyên gia nước ngoài có lợi nhất.

9. Danh mục các dự án công trình đưa vào quy hoach phải được tinh chọn.

Không nên đưa vào danh sách quy hoạch mọi dự án công trình nào mà cơ sở khoa học chưa rõ.

Không đưa vào danh sách những dự án công trình không còn phù hợp với thực tế thủy văn, và/hoặc tần suất sử dụng thấp, mà lợi bất cập hại.

Lựa chọn, có sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, các cụm dự án công trình cần hoàn thành đồng bộ, đầu tư đầy đủ để sớm hoàn tất và phát huy tác dụng.

Có như thế mới khắc phục được đầu tư dàn trải và kéo dài; mới hậu kiểm được hiệu quả của dự án công trình, kết luận được đúng sai, tránh gây nên phản tác dụng; mới rút ra được những bài học kinh nghiệm cần thiết trong công tác quy hoạch. Có như thế, môi trường, đời sống của người dânsản xuất mới đi vào ổn định.

Gs. Tskh. Nguyễn Ngọc Trân(2)

 _____________

1. Một số nội dung trong bài viết này đã được trình bày tại cuộc họp Ban Chỉ đạo Quy hoạch tổng thể thủy lợi Đồng bằng song Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu - nước biển dâng, ngày 17.02.2011.

2. Nguyên Chủ nhiệm Chương trình khoa học cấp nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp Đồng bằng sông Cửu Long, 60-02, 60B (1983-1990).

3. J.P. Ericson, C.J. Vorosmarty, S.L. Dingman, L.G. Ward, M. Meybaeck.  Effective sea-level rise and deltas: Causes of change and human implications. Global and Planetary Change, vol. 50, Issues 1-2, pp. 63-82, 02.2006.

4. “Creating Space for the River”, Ministry of Transport, Public Works and Water Management, 1998. Đối với những bước phát triển gần đây hơn, xem bài của Nguyễn Ngọc Trân, Ghi nhận về Hà Lan ứng phó với biến đổi khí hậu, http://www.monre.gov.vn/v35/uploaded/4/13939_ghinhan_halan-bdkh.pdf, 18.01.2011

Xem tin theo ngày:
LAO ĐỘNG
17:23 21/09/2019
Đại hội lần thứ IV nhiệm kỳ 2019-2024 của Hội Liên lạc với Người Việt Nam ở nước ngoài diễn ra ngày 21.9 tại Hà Nội. Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai dự đại hội.
Quay trở lại đầu trang