CHÍNH TRỊ
Cập nhật 23:01 | 06/04/2020 (GMT+7)
.
Kỳ họp thứ Tám, Quốc hội Khóa XIV

Cần nhiều thời gian để hoàn thiện phương pháp tính, mức thu tiền

16:58 | 21/10/2019
Đây là đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà khi trình bày Tờ trình về việc đề nghị QH cho lùi thời gian thu tiền miễn tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và khai thác tài nguyên nước. Lý lẽ là bởi tính phức tạp, đa dạng của các đối tượng tính tiền nêu trên.

Chậm ban hành 2 Nghị định

Theo Bộ trưởng Bộ TN-MT Trần Hồng Hà, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước là chính sách lần đầu tiên được quy định trong Luật Khoáng sản năm 2010 và Luật Tài nguyên nước năm 2012 của Việt Nam. Bên cạnh thuế tài nguyên đã thu từ nhiều năm trước, đây là một khoản thu thêm nhằm mục đích yêu cầu tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước nâng cao trách nhiệm trong việc khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, tránh lãng phí tài nguyên.


Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà trình bày Tờ trình về việc đề nghị Quốc hội cho lùi thời gian thu tiền miễn tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và khai thác tài nguyên nước.
Ảnh: Quang Khánh

Để triển khai thi hành Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước, Chính phủ được giao xây dựng, ban hành Nghị định hướng dẫn phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Theo đó, ngày 28.11.2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 203/2013/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, có hiệu lực từ ngày 20.1.2014 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 203), chậm 2 năm 6 tháng kể từ ngày Luật Khoáng sản có hiệu lực thi hành.

Ngày 17.7.2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 82/2017/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, có hiệu lực từ ngày 1.9.2017 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 82), chậm 4 năm 8 tháng kể từ ngày Luật tài nguyên nước có hiệu lực thi hành.

Việc ban hành chậm các Nghị định nêu trên do những nguyên nhân cụ thể sau: Trong quá trình xây dựng các Luật, việc đánh giá tác động của các chính sách nêu trên đã được thực hiện nhưng còn chưa toàn diện, cụ thể (riêng đối với thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản lần đầu được hình thành trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật Khoáng sản). Do đó, Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo đã không lường trước được hết những khó khăn, phức tạp, nhất là các vấn đề liên quan đến kinh tế, các thông số kỹ thuật phức tạp.

Để bảo đảm tính khả thi của Nghị định sau khi được ban hành, việc xác định các thông số để tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là trữ lượng và chất lượng khoáng sản, trong khi đó nội dung của gần 5.000 Giấy phép khai thác là không thống nhất, phức tạp, chỉ ghi công suất khai thác, phần lớn không có trữ lượng, chất lượng khoáng sản dẫn đến việc hoàn thiện phương pháp tính, mức thu là rất khó khăn do phải mất nhiều thời gian, nguồn lực để khảo sát, thăm dò đánh giá trữ lượng (thường từ 2- 3 năm) nhằm bao quát được tính phức tạp, đa dạng của nhiều loại Giấy phép khai thác khoáng sản.

Đối với tài nguyên nước, để hoàn thiện phương pháp tính cần xác định cụ thể nội hàm của từng thông số kỹ thuật tính tiền, gắn với từng đối tượng, từng công trình, mục đích khai thác nước, đặc biệt là các công trình khai thác nước tổng hợp cho nhiều mục đích khác nhau như đã nêu trên.

Vì những lý do nêu trên, Chính phủ cho rằng, cần có nhiều thời gian để hoàn thiện phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước do tính phức tạp, đa dạng của các đối tượng tính tiền nêu trên; đồng thời phải tính toán kỹ lưỡng các phương án để lựa chọn phương án có tính khả thi khi lần đầu tiên thực hiện chính sách, nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan khi triển khai chính sách thu thêm một khoản tiền ngoài các khoản thu đã được quy định trước đây để tạo sự đồng thuận cao.


Ảnh: Quang Khánh

Chính phủ còn gặp những khó khăn, vướng mắc khi hồi tố truy thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Do đó, Chính phủ đề nghị QH cho phép lùi thời gian thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước và đưa vào Nghị quyết tại Kỳ họp thứ Tám, QH Khóa XIV với nội dung sau: “Việc thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản quy định tại khoản 1 Điều 77 và quy định tại khoản 3 Điều 84 của Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 được thực hiện kể từ ngày 1.1.2014; việc thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định tại khoản 1 Điều 65 và theo quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 được thực hiện kể từ ngày 1.9.2017.”

Làm rõ trách nhiệm chậm ban hành 2 Nghị định

Trình bày Báo cáo thẩm tra về việc miễn tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và khai thác tài nguyên nước, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh cho biết, việc không thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước (từ 1.7.2011 đến 31.12.2013 đối với khoáng sản và từ 1.1.2013 đến 31.8.2017 đối với tài nguyên nước) là một trong các “vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội” do QH quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật Tổ chức Quốc hội. Do đó, Ủy ban Kinh tế tán thành với đề xuất của Chính phủ đề nghị QH đưa nội dung cho phép lùi thời gian thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước vào Nghị quyết kỳ họp, tương tự như việc QH quyết định các vấn đề có liên quan đến các khoản thu, nhiệm vụ chi hay bổ sung dự toán ngân sách.

Ủy ban Kinh tế cũng đề nghị, Chính phủ lý giải rõ hơn tại sao Nghị định 203 có hiệu lực ngày 20.1.2014 mà lại quy định thời hạn thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản từ ngày 1.1.2014. Bên cạnh đó, Ủy ban Kinh tế kiến nghị, QH yêu cầu Chính phủ kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân trong việc chậm ban hành hai Nghị định nêu trên theo quy định tại Điều 7 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo QH tại Kỳ họp thứ Chín tới đây.

Thanh Chi
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang