CHÍNH TRỊ
Cập nhật 09:08 | 20/10/2019 (GMT+7)
.
Phiên họp thứ 37 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Ban hành luật riêng để bảo đảm tính đặc thù của đầu tư PPP

17:11 | 16/09/2019
Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, trong bối cảnh hiện nay, việc ban hành một đạo luật riêng để đảm bảo tính đặc thù của đầu tư PPP, tránh tình trạng “vay mượn” quy định của các pháp luật khác trong quá trình áp dụng là cần thiết.

Cần có khung pháp lý ổn định cho các hợp đồng PPP dài hạn

Chiều 16.9, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch QH Phùng Quốc Hiển, UBTVQH đã cho ý kiến về dự án Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP).

Tờ trình dự án Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng trình bày. Ông Dũng nêu rõ, về mặt chính sách pháp luật, quy định về PPP vẫn cần phải được hoàn thiện, nâng cấp hơn nữa bởi các lý do như:


Thứ nhất, quy định chi tiết cho hoạt động PPP hiện nay mới chỉ dừng ở cấp Nghị định; Nghị định này chịu sự điều chỉnh của nhiều Luật khác nhau như Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Quản lý nợ công... Tuy nhiên, quy định tại các Luật này được xây dựng hướng tới dự án đầu tư công hoặc đầu tư tư nhân thuần túy, nhưng do pháp lý về PPP ở cấp Nghị định nên không thể trái Luật. Vì vậy, việc không thể phản ánh bản chất của mối quan hệ đối tác công và tư dẫn đến quá trình triển khai dự án PPP còn nhiều khó khăn, bất cập. Trong khi đó, việc thay đổi quy định tại các Luật nêu trên hoặc các nghị định dưới Luật đều có thể gây ảnh hưởng rất lớn đến việc tuân thủ hợp đồng dự án PPP. Trong bối cảnh này, việc ban hành một đạo luật riêng để đảm bảo tính đặc thù của đầu tư PPP, tránh tình trạng “vay mượn” quy định của các pháp luật khác trong quá trình áp dụng là cần thiết.

Thứ hai, cần có khung pháp lý ổn định cho các hợp đồng PPP dài hạn, nhiều rủi ro, đầu tư quy mô lớn. Hiện quy định về PPP tại nước ta được các nhà đầu tư đánh giá là có tính ổn định chưa cao. Hợp đồng dự án PPP thường kéo dài từ 20 - 30 năm. Nhà đầu tư cũng như các bên cho vay thường yêu cầu tính bền vững của các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng. Do vậy, rủi ro khi chính sách thay đổi là hiện hữu đối với nhà đầu tư, dẫn tới việc nhiều nhà đầu tư đề xuất áp dụng bảo lãnh hoặc yêu cầu một mức lợi nhuận cao hơn, thời gian thu hồi vốn dài hơn nhằm bù đắp cho những rủi ro mà nhà đầu tư phải chịu. Điều này gián tiếp làm tăng chi phí của bản thân dự án, chi phí xã hội để thực hiện dự án PPP (thời gian thu phí kéo dài, mức phí cao ảnh hưởng tới người dân sử dụng dịch vụ) cũng như chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư quốc tế do cam kết từ phía công còn thấp. Bên cạnh đó, việc xây dựng khung pháp lý với hiệu lực cao hơn (văn bản Luật) góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện dự án, khắc phục được các tồn tại, bất cập do khâu thực thi trong bối cảnh thiếu chế tài đối với hành vi vi phạm.

Thứ ba, hiện khung pháp lý còn thiếu các cơ chế tổng thể bao gồm các hình thức hỗ trợ, ưu đãi và bảo đảm đầu tư từ phía Nhà nước cho nhà đầu tư PPP để tăng tính hấp dẫn của dự án cũng như đảm bảo việc thực hiện dự án thành công. Quy định hiện hành tại Nghị định 63/2018/NĐ-CP đã đề cập đến vốn góp của Nhà nước, được xem là công cụ hỗ trợ trong giai đoạn xây dựng nhằm tăng tính khả thi cho dự án; tuy nhiên trên thực tế, trừ các dự án quan trọng được QH cho phép áp dụng cơ chế riêng, chưa có dự án PPP nào được bố trí phần vốn này trong kế hoạch đầu tư công trung hạn bởi nguồn vốn đầu tư công rất hạn hẹp và trình tự, thủ tục cân đối, bố trí vốn cũng chưa phù hợp với đặc thù dự án PPP. Hơn nữa, trong quá trình triển khai các dự án nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, các tổ chức quốc tế và một số nhà đầu tư quan tâm đều đề cập việc thiếu hụt công cụ bảo đảm, bảo lãnh trong chính sách hiện nay. Các nội dung nêu trên đều không thể quy định ở cấp Nghị định của Chính phủ do vướng các Luật như Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Quản lý nợ công.

Trên cơ sở các phân tích nêu trên, việc xây dựng Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) là cần thiết trong bối cảnh hiện nay, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh.

PPP khác xã hội hóa như thế nào?

Trình bày Báo cáo tóm tắt thẩm tra về dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh cho biết, Ủy ban Kinh tế cơ bản nhất trí với Tờ trình của Chính phủ về sự cần thiết ban hành Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng quốc gia nói chung và huy động nguồn lực tư nhân thông qua đầu tư PPP nói riêng, góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, khắc phục những khó khăn, bất cập đang tồn tại hiện nay và đảm bảo tính pháp lý ổn định, nâng cao hiệu quả thực hiện, tính khả thi của các dự án PPP dài hạn, nhiều rủi ro, đầu tư quy mô lớn, cũng như tính pháp lý đồng bộ với các luật có liên quan.


Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh trình bày Báo cáo tóm tắt thẩm tra về dự án Luật

Đồng tình với Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế, các Ủy viên UBTVQH cũng khẳng định đây là dự án Luật khó cần được nghiên cứu kỹ lưỡng. Theo đó, một số ý kiến đề nghị, Chính phủ cần tiếp tục tổng kết sâu sắc hơn về 20 năm thực hiện PPP có vướng mắc gì không; và xử lý vướng mắc như thế nào trong hệ thống pháp luật? Làm rõ hiệu quả đem lại từ các dự án PPP về mặt nhà nước và xã hội như thế nào? Tính thống nhất của dự án luật trong hệ thống pháp luật.

Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Nguyễn Thúy Anh đặt vấn đề, PPP khác với xã hội hóa như thế nào? Có phải PPP nằm trong xã hội hóa không hay xã hội hóa nằm trong PPP? Cùng quan điểm, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa,  Giáo dục, TN, TN và NĐ Phan Thanh Bình nêu câu hỏi, theo quy định của dự án Luật, phải chăng dự án lớn là PPP, dự án vừa là xã hội hóa?

Đối với quy định về lĩnh vực đầu tư, quy mô và phân loại dự án PPP, Khoản 1, Điều 5, dự thảo luật xác định lĩnh vực đầu tư theo phương thức PPP gồm: Giao thông - vận tải; nhà máy điện, hệ thống truyền tải điện; hệ thống cung cấp nước sạch, thoát nước và và xử lý nước thải, xử lý chất thải; hạ tầng khu đô thị, công viên; trụ sở cơ quan nhà nước, nhà ở công vụ; y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề; hạ tầng công nghệ thông tin; các lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Trong khi đó, Khoản 2, Điều 5 lại giao Chính phủ quy định chi tiết quy mô tổng mức đầu tư tối thiểu của dự án PPP đối với từng lĩnh vực quy định tại Khoản 1 Điều 5, nhưng không thấp hơn 200 tỷ đồng, trừ dự án áp dụng loại hợp đồng kinh doanh - quản lý. Chủ nhiệm Nguyễn Thúy Anh băn khoăn, vậy dưới 200 tỷ đồng có phải là đầu tư theo PPP không, nhất là y tế, giáo dục, trợ cấp xã hội, vốn đầu tư không phải ở mức quá cao?

Tin: Hoàng Ngọc
Ảnh: Quang Khánh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang