CHÍNH TRỊ
Cập nhật 11:31 | 14/11/2018 (GMT+7)
.
Ngày làm việc thứ mười lăm, Kỳ họp thứ Sáu, Quốc hội Khóa XIV:

Nghe Tờ trình, Báo cáo thẩm tra dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi)

10:24 | 08/11/2018
Tiếp tục phiên họp sáng nay, 8.11, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển, QH đã nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi).

Tiếp cận các chuẩn mức quốc tế

Trình bày Tờ trình dự án Luật, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, Luật Quản lý thuế được QH thông qua ngày 29.11.2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2007, từ đó đến nay Luật Quản lý thuế đã được sửa đổi, bổ sung ba lần vào các năm 2012, 2014 và năm 2016.

Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật quản lý thuế đã đạt được nhiều kết quả. Tuy nhiên, công tác quản lý thuế nói chung và quy định pháp luật về quản lý thuế nói riêng cũng có những hạn chế bất cập nhất định. Cụ thể là: việc thường xuyên bổ sung, sửa đổi văn bản luật đã ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế; một số văn bản pháp luật khác cũng có nội dung quy định về quản lý thuế, vì vậy chưa tạo ra sự thống nhất trong các văn bản quy định pháp luật. Phạm vi điều chỉnh của Luật chưa bao quát hết các khoản thu khác trong NSNN, mặt khác hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế cá thể, hộ gia đình hoặc khu vực kinh tế phi chính thức chưa được quy định đầy đủ. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế đã được đẩy mạnh, tuy nhiên cũng có một số nội dung như cơ sở dữ liệu thương mại, giao dịch điện tử… cũng chưa được quy định một cách toàn diện. Một số quy định về nguyên tắc quản lý thuế, quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thuế, nhiệm vụ quyền hạn của cán bộ liên quan chưa được quy định một cách đầy đủ. Các quy định về quản lý hành chính từ khâu đăng ký, kê khai, tính thuế, ấn định thuế, nộp thuế, xử lý tiền chậm nộp, nợ đọng thuế còn chưa rõ ràng, mang lại rủi ro tiềm ẩn trong công tác quản lý thuế. Trong điều kiện Việt Nam hội nhập, các hoạt động thương mại, đầu tư quốc tế ngày càng có vai trò quan trọng, cùng với chính sách ưu đãi về thuế để thu hút đầu tư đã nảy sinh rủi ro về xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận. Quy định về thanh tra, kiểm tra cần được hoàn thiện cho phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (như luật thanh tra, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm hành chính).


Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng trình bày Tờ trình dự án Luật
Ảnh: Quang Khánh

Qua đánh giá thực trạng việc thực thi Luật và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nêu rõ, Chính phủ thấy rằng, việc sửa đổi Luật Quản lý thuế ở thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết để hoàn thiện thể chế quản lý thuế, thực hiện cải cách hành chính, tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, tạo điều kiện phát triển các thành phần kinh tế. Đồng thời, tiếp cận tới các chuẩn mực và thông lệ quốc tế để góp phần thu hút đầu tư trong nước, nước ngoài, tạo cơ sở để xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại trong điều kiện hội nhập. Tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin cho công tác quản lý thuế, trong đó có việc áp dụng  rộng  rãi phổ biến quản lý thuế điện tử, giao dịch điện tử công khai, minh bạch; khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay đồng thời rà soát và thống nhất giữa Luật Quản lý thuế và các văn bản pháp luật có liên quan.

“Luật Quản lý thuế (sửa đổi) phải bảo đảm Luật Quản lý thuế phải có tính thực tiễn cao, cụ thể, bao quát các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các cơ quan liên quan, cũng như quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế. Kế thừa những nội dung quy định của Luật Quản lý thuế hiện hành còn giá trị thực hiện, tập trung sửa đổi những quy định còn bất cập và bổ sung những, chuẩn mực theo kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam”, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nhấn mạnh.

Ảnh: Quang Khánh

Còn nhiều điều khoản giao Chính phủ hướng dẫn

“Hồ sơ trình dự án Luật đã đảm bảo yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ủy ban Tài chính – Ngân sách thống nhất với tên gọi của Luật là Luật Quản lý thuế (sửa đổi) vì phạm vi sửa đổi lần này khá rộng, bổ sung nhiều nội dung mới phức tạp, quan trọng”, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Nguyễn Đức Hải cho biết khi trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật.

Tuy nhiên, Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Đức Hải cũng nêu rõ, để có cơ sở thẩm tra, đánh giá và để các ĐBQH có căn cứ, xem xét cho ý kiến đối với từng nội dung, Chính phủ cần thuyết minh rõ hơn về cơ sở, nguyên nhân và lý do cần bổ sung các quy định mới và bỏ những quy định không còn phù hợp trong Luật hiện hành.

Cũng theo Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Đức Hải, so với Luật hiện hành thì dự thảo Luật sửa đổi còn nhiều quy định chưa cụ thể. Luật hiện hành có 20 điều giao Chính phủ quy định chi tiết, dự thảo lần này có khoảng ¼ số điều của Luật (36/152 điều) và 13 khoản giao Chính phủ quy định chi tiết, trong khi đó có khoảng 15 Điều trong Luật hiện hành không giao Chính phủ quy định chi tiết nay lại được bổ sung giao Chính phủ quy định chi tiết, trong khi Tờ trình của Chính phủ không giải thích lý do.

Báo cáo của Ủy ban Tài chính – Ngân sách cũng nêu rõ một số nội dung còn có quan điểm khác nhau trong quá trình thẩm tra.


Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Nguyễn Đức Hải trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật.
Ảnh: Quang Khánh

Cụ thể là, về nguyên tắc quản lý thuế (Điều 5): Ủy ban Tài chính – Ngân sách đề nghị, nghiên cứu bổ sung việc áp dụng nguyên tắc “giao dịch độc lập” trong quản lý thuế đối với người nộp thuế có phát sinh giao dịch với các bên có quan hệ liên kết nộp thuế tương xứng với giá trị tạo ra tại Việt Nam; bổ sung vào Điều 49 và Điều 50 theo nguyên tắc quản lý thuế căn cứ vào bản chất và nguyên tắc giao dịch độc lập. Về những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế (Điều 6), Ủy ban Tài chính – Ngân sách đề nghị cần bố cục, sắp xếp theo từng nhóm đối tượng: cán bộ quản lý thuế, người nộp thuế. Ngoài ra, dự thảo Luật chưa quy định hành vi bị cấm đối với cơ quan, tổ chức liên quan, do đó cần nghiên cứu, bổ sung nội dung này trong dự thảo Luật. Về xây dựng lực lượng quản lý thuế (Điều 10), đa số ý kiến trong Ủy ban Tài chính – Ngân sách nhất trí với dự thảo Luật. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, cán bộ công chức quản lý thuế cũng là cán bộ công chức, viên chức nên các vấn đề về phẩm chất đạo đức, tiêu chuẩn cán bộ… đã được quy định tại Luật Cán bộ công chức, vì vậy, không cần thiết phải có quy định riêng tại Điều 10 của Luật này. Về hợp tác quốc tế về thuế (Điều 12), Ủy ban Tài chính – Ngân sách đề nghị chỉ quy định về các nội dung hợp tác quốc tế về thuế và chuyển trách nhiệm của các cơ quan có liên quan đến hợp tác quốc tế về thuế vào Chương II về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan có liên quan.

Ủy ban Tài chính – Ngân sách cũng đề nghị bổ sung những nội dung quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ, trách nhiệm của các Bộ, ngành trong quản lý thuế về chống chuyển giá, gửi giá, trốn thuế, xử lý nợ đọng, truy thu thuế, cưỡng chế về thuế; bổ sung quy định quyền của người nộp thuế được nhận biên bản của cơ quan Kiểm toán nhà nước, cơ quan Thanh tra và các cơ quan có thẩm quyền khi kiểm tra, đối chiếu nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi thanh tra, kiểm toán công tác quản lý thu NSNN của cơ quan quản lý thuế; bổ sung nội dung phối hợp giữa cơ quan thanh tra các cấp, Kiểm toán nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền trong việc quản lý, thực hiện pháp luật về thuế và quản lý thuế.

Nguyễn Bình
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang