50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2019) - Tầm vóc vĩ đại của tác phẩm bất hủ

Ý nghĩa lịch sử và giá trị trường tồn

07:34 | 30/08/2019
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một kiệt tác chứa đựng tinh thần cao cả, sâu sắc, nhưng cũng rất gần gũi với đời sống hàng ngày của một nhà cách mạng, nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục và nhà văn hóa lỗi lạc. Bản Di chúc vừa mang ý nghĩa cổ truyền nhưng cũng chỉ ra con đường mai sau, vừa là cảm nghĩ của một vĩ nhân, nhưng cũng là sự đúc kết các quy luật tự nhiên, xã hội, con người một cách đơn giản, nhẹ nhàng, kinh nghiệm, cô đọng, triết luận.

Những dòng “Tuyệt đối bí mật”

Chọn dịp sinh nhật để viết những dòng “Tuyệt đối bí mật” để lại cho đồng bào, đồng chí và Tổ quốc nên phong cách diễn đạt suy nghĩ của Người trong Di chúc rất độc đáo. Đó là sự kết hợp giữa dân gian và bác học, cổ điển và hiện đại, phù hợp giữa tinh thần Đông phương với tinh thần thực tiễn của thời điểm đó và cả về sau này, mang chất dung dị, đời thường, chứa đựng tình cảm thương yêu mênh mông thương yêu bao trùm hết thảy của một trái tim nhân hậu. Những ý tưởng của Người được diễn tả chân thực vì nói đúng sự thật khách quan và chính xác về chủ quan; ngắn gọn, dễ hiểu bởi mọi ý tưởng đều đã được khái quát, chắt lọc tối giản; nhân văn và thiết thực. Chính vì tư tưởng, phong cách, đạo đức cao thượng đẹp đẽ trong sáng như vậy nên tác phẩm này chỉ có thể thuộc về một con người vĩ đại có tầm nhìn thời đại và hàm chứa suy nghĩ của cả nhân loại. Nội dung Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho thấy khí phách, tinh thần lạc quan cách mạng của bậc đại nhân, đại trí, đại dũng như Jean Lacourture đã nhận xét: “Văn phong kỳ lạ rõ ràng là thế! Người ta không thấy có giọng văn này ở cả Stalin, Churchill hay De Gaulle, còn văn của cụ Hồ thì vươn tới tiếng nói của lịch sử”(1).

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết tinh tư tưởng đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, một chiến sỹ đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp hòa bình, tiến bộ, phát triển trên toàn thế giới. Sinh ra và lớn lên trong giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước, Nguyễn Tất Thành đã quyết tâm cống hiến tuổi trẻ và cả cuộc đời mình vào hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và đi theo con đường cách mạng vô sản, từ đó sáng lập và lãnh đạo, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử cách mạng thế giới với vai trò là người chiến sĩ tiên phong trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa trong thế kỷ XX. Người cũng đã đưa văn hóa thành ngọn hải đăng cho sự nghiệp phát triển đất nước, đồng thời Người cũng là nhà hoạt động văn hóa trên các lĩnh vực báo chí, thơ, văn. Người còn là một nhà ngoại giao xuất chúng, luôn kiên trì phấn đấu không mệt mỏi cho hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển giữa các dân tộc trên toàn thế giới và từ đó đưa Việt Nam lên vị thế xứng đáng trên bản đồ chính trị thế giới.

Từ những cống hiến lớn lao và kinh nghiệm phong phú trong sự nghiệp cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn dò tất cả những điều cần thiết, quan trọng, chính yếu trong Di chúc của Người cho tương lai dân tộc. Chính vì vậy mà Fidel Castro đã viết: “Hồ Chí Minh thuộc lớp người đặc biệt mà cái chết là mầm mống của sự sống và là nguồn cổ vũ đời đời bất diệt”(2).

“Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài…”

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào vai trò, vị trí và tính tiên phong của Đảng cầm quyền, một chính đảng cần phải lấy đạo đức cách mạng làm nền tảng, có nhiệm vụ làm cho dân giàu, nước mạnh và người đảng viên luôn xác định phải trung thành, tận tụy phục vụ đất nước, phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giữ vững tư tưởng xuyên suốt, nhất quán, kiên định về tư cách của Đảng cầm quyền, trong đó nền tảng là đạo đức của đảng viên. Người đã nói rõ, cách mạng muốn thành công trước hết phải có “đảng cách mệnh”, tuy nhiên, “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(3). Muốn gánh vác được trách nhiệm nặng nề đó, đảng viên cần có đạo đức cách mạng, đó là “Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì Dân mà tranh đấu quên mình”(4). Người còn thường xuyên nhắc nhở: “Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”(5). Và, trong Di chúc, Người cũng vẫn nhấn mạnh những vấn đề cơ bản, quyết định đến sự tồn vong của Đảng cầm quyền, đó là: đoàn kết, tự phê bình và phê bình, đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Như Tổng Bí thư Lê Duẩn đã khẳng định: “Mỗi bước đi của nhân dân ta và của Đảng ta đều gắn liền với cuộc đấu tranh cách mạng vô cùng sôi nổi và đẹp đẽ của Hồ Chủ tịch. Toàn bộ hoạt động của Người cùng với sự nghiệp của nhân dân ta và Đảng ta là một thiên anh hùng ca bất diệt của cách mạng Việt Nam”(6).

Tỏa sáng lòng bao dung, nhân ái

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện sâu sắc tinh thần yêu nước thương dân, suốt đời chăm lo cho hạnh phúc nhân dân của một vị lãnh tụ lập quốc vĩ đại, mà còn tỏa sáng lòng bao dung, nhân ái của một vị lãnh tụ đối với tất cả con người, niềm tin tưởng tuyệt đối vào nhân dân. Trong suốt cuộc đời cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một mục tiêu duy nhất để hướng tới, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, để nhân dân có quyền làm chủ đất nước. Vì thế, Người luôn tâm niệm rằng, “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(7). Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân và Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân nên bất luận trong hoàn cảnh nào: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân”(8).

Trong những lời cuối cùng để lại, Người quan tâm từng chi tiết tới người dân của các tầng lớp xã hội, nhắc những công việc cụ thể đối với những người có công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho đến những nạn nhân của xã hội cũ. Đó không chỉ là niềm tin vững chắc, sự khẳng định thắng lợi cuối cùng của một dân tộc anh hùng đấu tranh vì chính nghĩa, mà còn là tấm lòng đôn hậu, bao dung, tình yêu thương con người vô bờ bến. Như nhà sử học Helen Tourmel đã viết: “Ở con người Hồ Chí Minh, mỗi người đều thấy biểu hiện của nhân vật cao quý nhất, bình dị nhất và được kính yêu nhất trong gia đình mình… Hồ Chí Minh là hình ảnh sự khôn ngoan của Phật, lòng nhân từ của Chúa, tinh thần nhiệt tình cách mạng của Lênin, sự ung dung của một người chủ gia tộc”(9).

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho thấy tầm nhìn xa, sự quan tâm sâu sắc, chăm lo, bồi dưỡng các thế hệ cách mạng đời sau. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề đào tạo, giáo dục các thế hệ cách mạng kế cận, đặc biệt là lứa tuổi đoàn viên, thanh niên, bởi: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”(10).

Hơn thế nữa, đội quân chủ lực, nguồn sức mạnh tiên phong trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng chính là nhờ các thế hệ thanh niên nếu như lực lượng thanh niên được giáo dục, rèn luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng thì chắc chắn sẽ trở thành lực lượng hậu bị vững chắc của Đảng và dân tộc. Chiến lược đối với thế hệ trẻ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là cẩm nang cần thiết cho một giai đoạn cách mạng cụ thể, mà đó còn là yêu cầu quan trọng phục vụ mãi mãi sự nghiệp và lý tưởng cách mạng. Thế hệ trẻ Việt Nam cần phải rèn luyện những tố chất trung thành, nhiệt tình, hăng hái, tinh thông nghiệp vụ, quan hệ mật thiết với nhân dân và quyết tâm cao, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự nghiệp đổi mới của Đảng, của dân tộc. Đó chính là “những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa hồng vừa chuyên”(11).

___________

1. Hồ Chí Minh, Nxb.SOIR, Paris, 1967
2. Thế giới ca ngợi và tiếc thương Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1970, tr.75
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.289
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 11, tr.603
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.547
6. Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1970, tr.35
7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.65
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 9, tr.518
9. Trở thành người Bác như thế nào, Nxb. Viện Hàn lâm, Berlin, 1966
10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.216
11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.612

Đỗ Hoàng Linh - Phó Giám đốc Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Quay trở lại đầu trang