Cập nhật 22:21 | 21/10/2019 (GMT+7)
.

Phân tích chính sách khi xây dựng luật: Tầm quan trọng của việc “chẩn bệnh”

09/05/2008
Phân tích chính sách trong quá trình làm luật là hoạt động cần thiết bởi nhiều lý do.

CÁC BÀI TRONG CHUYÊN ĐỀ

Phân tích chính sách khi xây dựng luật: Đánh giá chi phí tuân thủ pháp luật

Phân tích chính sách khi xây dựng luật: Phương pháp luận của phân tích chính sách

      Thứ nhất, pháp luật áp dụng cho hàng triệu con người, cho nên phân tích chính sách để đảm bảo rằng, pháp luật ban hành ra đều phải hướng đến phục vụ lợi ích công cộng hoặc chí ít là một bộ phận nhất định trong công chúng. Có thế nó mới được gọi là chính sách công. Không phải ngẫu nhiên mà ở các nước luôn có tranh luận gay gắt về những chính sách ẩn đằng sau các điều luật. Người ta thường than phiền có nhiều dự luật không thực sự phục vụ lợi ích của đa số người đóng thuế ngay cả khi được tái phân phối. Chính vì vậy, hàng năm chỉ có khoảng 5-7% tổng số chính sách trình ra Quốc hội Mỹ, trong đó có những chính sách được thể hiện trong các điều luật, được thông qua.
      Thứ hai, chính sách công có tính chất phải được thi hành, phân tích chính sách giúp nhà làm luật hiểu rõ mức độ tác động của các biện pháp cưỡng chế thi hành là tới đâu và lường trước những phản ứng ngược lại. Thiếu hoạt động này, pháp luật có thể có những hạn chế như mang tính cưỡng chế thái quá; Quá nhiều biện pháp chế tài không cần thiết gây khó khăn và phiền hà khi thực hiện; Quá nhiều biện pháp chế tài đến mức phát sinh yêu cầu mới, giảm hiệu quả; Gây tác động ngược lại quá mạnh đến mức phải điều chỉnh. Người làm luật thận trọng thường phải đặt mình vào vị trí người thi hành mới nhận biết được đâu là mức độ quản lý và cưỡng chế nên làm, mới “quản” một cách có “lý”.
      Thứ ba, phân tích chính sách đặt sản phẩm lập pháp trong một chuỗi các hoạt động theo trật tự cố định, từ lúc nhận biết nhu cầu, xác định phương án, thiết kế phương án, cho đến lúc thông qua. Chuỗi các hoạt động này lại gắn với những quyết định gắn kết với nhau, đưa ra các quyết định tốt mới tạo ra sản phẩm hiệu quả.
      Thứ tư, phân tích chính sách giúp nhận biết mối liên hệ của văn bản chuẩn bị ban hành với những văn bản cùng lĩnh vực, từ đó tăng tính hiệu quả. Nếu không có thể dẫn tới tình trạng phản tác dụng của văn bản luật.
      Thứ năm, hầu hết các văn bản hay quy định pháp luật đều có tiền lệ hay kinh nghiệm trước đó. Ít có văn bản luật nào hoàn toàn mới. Phân tích chính sách, trong đó việc nghiên cứu kỹ lưỡng lịch sử, tiền lệ, kinh nghiệm đã có sẽ làm cho văn bản luật dễ được chấp nhận hơn, tiết kiệm chi phí, hạn chế rủi ro.
      Thứ sáu, phân tích chính sách hướng tới tính hiệu quả, tức là đối chiếu giữa chi phí và lợi ích, từ đó cân nhắc xem có cần ban hành văn bản luật hay không, hay là nên áp dụng các biện pháp khác, hoặc giữ nguyên trạng. Ở các nước theo hệ thống thông luật, thậm chí cả các nước có truyền thống luật thành văn như Đức, Pháp, Ý đã theo xu hướng áp dụng các công cụ khác ngoài pháp luật. Bởi lẽ pháp luật là một phương thức khá tốn kém, nếu chưa cần đến pháp luật thì có thể sử dụng các phương thức khác đỡ tốn kém hơn. Khâu phân tích chính sách chính là nhằm tìm ra phương thức thích hợp cho từng tình huống.
      Cuối cùng, để pháp luật có được tính thực tiễn, khả thi, cũng như dễ được chấp nhận, nó phải được bàn luận bởi đa số công chúng. Chân lý không phải lúc nào cũng thuộc về đa số, nhưng hầu hết các trường hợp nó nằm ở đa số. Hơn nữa, pháp luật, như trên đã nói, ban hành cho đa số. Trong khi đó, công đoạn phân tích chính sách lại đòi hỏi tham vấn ý kiến của công chúng, cho nên câçn đáp ứng nguyên tắc quyết định bởi đa số.
      Ngoài các nguyên nhân trên đây, ở các nước đang trong thời kỳ chuyển đổi, những bất cập trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật cũng cho thấy sự cần thiết của phân tích chính sách. Các nước này không có thói quen phân tích chính sách mà thường đi ngay vào soạn thảo luật. Kết quả là nhiều khi các nhà soạn thảo đưa vào dự luật những lựa chọn về chính sách dựa trên kiến thức và kinh nghiệm của cá nhân, chứ không xuất phát từ phân tích kỹ lưỡng nhu cầu thực tế. Mặt khác, các bản dự thảo thường sao chép luật nước ngoài mà không tính đến bối cảnh trong nước. Do đó, nhiều khi soạn thảo xong, hoặc tồi tệ hơn, khi dự thảo đã trở thành luật, những điểm yếu về chính sách mới bộc lộ rõ. Pháp luật thiếu nền tảng thực tiễn, khiến cho việc thực thi khó khăn, tốn kém, gặp phải sự chống đối từ xã hội, và phải sửa đổi thường xuyên.

Nguyên Lâm

Quay trở lại đầu trang