Cập nhật 17:07 | 16/08/2018 (GMT+7)
.

Mở rộng đối tượng miễn đào tạo chưa phải là giải pháp căn bản để nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư

11:15 | 20/06/2012
Điều kiện miễn đào tạo nghề luật sư; có cho phép viên chức hành nghề luật sư hay không; quyền, nghĩa vụ của luật sư; cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư, quy định mở rộng đối tượng được quyền yêu cầu luật sư bào chữa là những vấn đề còn ý kiến khác nhau khi thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư…

ĐBQH Dương Ngọc Ngưu (Điện Biên): Miễn đào tạo nghề luật sư cho các đối tượng công chứng viên, chấp hành viên, thừa phát lại là không hợp lý
 
Do đặc thù của nghề luật sư là người tham gia tố tụng cần phải được đào tạo kỹ về kỹ năng tác nghiệp, kỹ năng hoạt động tố tụng, đạo đức tư cách, bản lĩnh nghề nghiệp, trong đó có kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án, thu thập thông tin chứng cứ, đánh giá chứng cứ, kiến thức áp dụng pháp luật, xây dựng luận cứ bào chữa, kỹ năng tác nghiệp như xét hỏi, tranh luận đối đáp, tranh tụng tại phiên tòa. Dự thảo Luật quy định các đối tượng công chứng viên, chấp hành viên, thừa phát lại là những người chưa được đào tạo các nội dung kiến thức trên, không có kinh nghiệm hoạt động tố tụng lại được miễn đào tạo nghề luật sư là không phù hợp. Các nội dung đào tạo các nghề này cũng không đào tạo nghiệp vụ tham gia tố tụng và cũng không có nội dung gần với đào tạo nghề luật sư. Do vậy, tôi không đồng ý việc miễn đào tạo nghề luật sư cho các đối tượng công chứng viên, chấp hành viên, thừa phát lại. Tôi cũng không đồng ý giao cho Chính phủ quy định những đối tượng khác được miễn đào tạo nghề luật sư như báo cáo giải trình, tiếp thu của Chính phủ. Bởi lẽ luật sư là những người tham gia tố tụng phải có nghiệp vụ, kỹ năng hoạt động tố tụng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thực hiện chủ trương Nghị quyết 49 của Bộ chính trị cần tăng cường kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa, trong đó luật sư đóng vai trò quan trọng nên càng chú trọng công tác đào tạo nghề luật sư và các đối tượng được miễn đào tạo nghề luật sư phải được quy định trong luật, không để Chính phủ quy định.

Ngược với những quy định trên, dự thảo Luật lại quy định các đối tượng đã từng đảm nhiệm các chức danh tư pháp là người tiến hành tố tụng như điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán sơ cấp thì phải có đủ 5 năm thực tế công tác trở lên, chỉ trong vòng 5 năm sau khi thôi làm chức danh đó mới được miễn đào tạo nghề luật sư là không đúng. Bởi lẽ được đào tạo bổ nhiệm chức danh tư pháp là người tiến hành tố tụng, họ đã phải trải qua thời gian đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ tố tụng dài gấp đôi đào tạo luật sư, phải có thời gian công tác thực tiễn ít nhất là từ 4 - 5 năm mới được bổ nhiệm làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên sơ cấp. Như vậy, theo quy định của dự thảo Luật, người tiến hành tố tụng, khi chuyển sang làm luật sư là người tham gia tố tụng phải đào tạo lại nghề luật sư là không hợp lý. Các nước trên thế giới, trước khi làm thẩm phán, công tố viên phải có thời gian nhất định làm luật sư. Nhưng ở dự thảo Luật lần này lại quy định ngược lại là không phù hợp, tiến tới cần đi theo hướng trước khi làm thẩm phán, công tố viên cần có thời gian nhất định làm nghề luật sư.

Báo cáo tiếp thu của Chính phủ không chấp nhận miễn đào tạo nghề luật sư cho điều tra viên sơ cấp là không hợp lý, vì điều tra viên cũng là người thi hành tố tụng, có đầy đủ tố chất trong hoạt động tố tụng, đã có kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật để khởi tố, điều tra phục vụ ra kết luận điều tra và các hoạt động tố tụng khác. Do vậy, đề nghị miễn đào tạo nghề luật sư đối với điều tra viên sơ cấp như quy định hiện hành.

Khoản 4, Điều 17 quy định viên chức đang làm công tác giảng dạy pháp luật vẫn thuộc diện cấp chứng chỉ hành nghề luật sư với lập luận như trong Tờ trình của Chính phủ, theo tôi, quy định này chưa đáp ứng định hướng phát triển của đội ngũ luật sư chuyên nghiệp có tính chuyên môn hóa cao. Mặt khác, tháng 6/2006 khi thảo luận thông qua Luật Luật sư đã thảo luận cân nhắc kỹ và quyết định không chấp nhận công chức, viên chức làm luật sư. Khi thảo luận thông qua Luật Trợ giúp pháp lý, QH Khóa XI không chấp nhận viên chức trợ giúp pháp lý được làm luật sư, không có luật sư công vì tính đặc thù của luật sư. Khi tham gia tố tụng thực hiện hoàn toàn trong giờ hành chính dễ dẫn đến xung đột lợi ích giữa cung cấp dịch vụ công và dịch vụ tư. Khác hẳn với bác sỹ có thể chữa bệnh ngoài giờ hoặc thầy giáo dạy kiến thức ngoài giờ hoặc dạy ở một cơ sở đào tạo khác theo hợp đồng, vì giảng dạy pháp luật và nghề luật sư là hai nghề hoàn toàn khác nhau, yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng tác nghiệp cũng khác nhau và được thực hiện trong giờ hành chính nên giảng viên không thể kiêm nhiệm hoạt động cả 2 lĩnh vực sẽ không phù hợp với Luật Công chức, viên chức, dễ phát sinh xung đột lợi ích và không đảm bảo chất lượng giảng dạy cũng như chất lượng tham gia tố tụng…
 
ĐBQH Nguyễn Thanh Hồng (Bình Dương): Tăng thời gian đào tạo lên 12 tháng là cần thiết và phù hợp
 
Về thời gian đào tạo nghề luật sư, hiện nay theo chương trình đào tạo 6 tháng ngoài việc học viên học các kỹ năng cơ bản về hành nghề luật sư còn được thực hành ngay tại cơ sở đào tạo bằng các hình thức diễn án, tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý tại Trung tâm tư vấn pháp luật của cơ sở đào tạo. Với chương trình học 6 tháng thì học viên sau khi tốt nghiệp về cơ bản được trang bị những kỹ năng hành nghề luật sư, tuy nhiên, do thời gian đào tạo ngắn nên hạn chế thời gian bố trí học viên đi thực tập, thực tế tại các tổ chức hành nghề luật sư, tại các cơ quan tố tụng và các trung tâm trợ giúp pháp lý. Theo đánh giá của các giảng viên trực tiếp làm công tác đào tạo luật sư của học viên thì nội dung đào tạo cơ bản là phù hợp nhưng lượng kiến thức khá lớn, thời gian đào tạo ngắn nên gây áp lực cho người học và người dạy. Theo quan điểm của tôi, do thời gian đào tạo 6 tháng nên chỉ đủ thời gian học kỹ năng nghề trên giảng đường mà ít có điều kiện thực hành trong môi trường hành nghề luật sư. Vì vậy, với thời gian đào tạo là 12 tháng sẽ có điều kiện thực hành nghề nhiều hơn. Đồng thời, với thiết kế chương trình tăng thời lượng thực hành thì có thể rút ngắn thời gian tập sự hành nghề. Do vậy, tăng thời gian đào tạo lên 12 tháng là cần thiết và phù hợp.

Theo quy định của dự thảo Luật, để được hành nghề luật sư, người tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư phải qua một thời gian thực tập hành nghề, được một luật sư hướng dẫn và phải được Hội đồng do Liên đoàn luật sư Việt Nam thành lập kiểm tra, đánh giá kết quả tập sự. Theo quan điểm của tôi cần thay đổi quy định tập sự hành nghề luật sư bằng quy định luật sư tập sự bởi các lý do. Thứ nhất, việc tăng thời gian đào tạo, tăng thời gian thực hành nghề sẽ khẳng định giá trị của chứng chỉ đào tạo nghề. Vì vậy, sau khi tốt nghiệp học viên có đủ khả năng để trở thành luật sư. Đây cũng là mục tiêu của việc đào tạo nghề luật sư. Thứ hai, nghiên cứu nội dung Điều 14 dự thảo Luật Luật sư thì việc tập sự hành nghề luật sư tương tự như tập sự công chức, viên chức. Quy định luật sư tập sự sẽ thống nhất với các quy định của Luật Công chức, viên chức về vấn đề này và thống nhất với việc đào tạo các chức danh tư pháp khác. Thứ ba, thực tế việc tập sự hành nghề luật sư hiện nay còn nặng tính hình thức, thiếu hiệu quả vì nhiều lý do cả về người tập sự và người hướng dẫn, nếu thực hiện theo chế độ luật sư tập sự thì sẽ nâng cao được trách nhiệm trong việc hướng dẫn đánh giá kết quả tập sự của đoàn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, của luật sư hướng dẫn và của chính luật sư tập sự. Đặc biệt là luật sư tập sự được trực tiếp hoạt động nghề nghiệp nhất định, tuy có giới hạn về phạm vi hoạt động nhưng địa vị pháp lý của luật sư tập sự sẽ cao hơn người tập sự hành nghề luật sư.

Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thảo luận tại tổ của Chính phủ cho rằng người tập sự hành nghề luật sư chưa phải là luật sư nên không thể gọi là luật sư tập sự, việc quy định luật sư tập sự được tham gia tranh tụng tại phiên tòa là mâu thuẫn với hệ thống pháp luật về tố tụng hiện nay. Quan điểm này theo tôi chưa thực sự thuyết phục, vì chế định luật sư tập sự được quy định trong Pháp lệnh về luật sư trước đây còn việc quy định cho luật sư tập sự tham gia tranh tụng tại phiên tòa hay không là căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành. Trong tương lai, khi sửa các luật về tố tụng căn cứ vào yêu cầu thực tiễn, yêu cầu của cải cách tư pháp có thể quy định cho phù hợp. Ngoài ra nếu thay thế chế định tập sự hành nghề luật sư bằng chế định luật sư tập sự sẽ góp phần khắc phục tình trạng thiếu hụt số lượng luật sư hiện nay, đồng thời phù hợp với quan điểm của Ủy ban Tư pháp nêu trong Báo cáo thẩm tra là đề nghị cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu bổ sung quy định về phân loại đối với luật sư hoặc danh hiệu riêng của luật sư phù hợp với năng lực, trình độ và uy tín xã hội của từng luật sư, tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia tố tụng cũng như hành nghề. Thứ tư, xuất phát từ mục đích của việc sửa đổi quy định về tập sự hành nghề luật sư trong luật hiện hành là nhằm khắc phục những bất cập nảy sinh trong quá trình thực hiện và để nâng cao chất lượng tập sự hành nghề luật sư, do đó dự thảo Luật quy định cho phép người tập sự được luật sư hướng dẫn thực hiện một số công việc khi khách hàng đồng ý nhưng không được bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự đại diện cho khách hàng tại phiên tòa và ký văn bản tư vấn pháp luật. Nếu quy định như dự thảo Luật theo tôi chỉ là quy định mang tính nửa vời vì thực chất trong thời gian tập sự người hành nghề tập sự luật sư cũng chỉ làm những công việc không khác gì với thực tập trong quá trình đào tạo luật sư. Tính nửa vời còn được thể hiện trong việc quy định người hành nghề luật sư được làm một số việc, nếu được luật sư hướng dẫn đồng ý và được khách hàng chấp thuận. Quy định như vậy là không khả thi, bởi lẽ người tập sự không chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của luật sư hướng dẫn mà còn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của khách hàng mới có thể làm được những việc mà luật quy định. Ngoài ra, việc quy định người tập sự hành nghề luật sư được cùng đi với luật sư hướng dẫn gặp gỡ người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo, người bị hại dễ dẫn đến gây ảnh hưởng đến quá trình hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là hoạt động của cơ quan điều tra. Thứ năm, ngoài ra việc giao cho liên đoàn luật sư tổ chức kiểm tra kết quả hành nghề và Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề thay cho quy định hiện hành là Bộ Tư pháp tổ chức kiểm tra cấp chứng chỉ là không bảo đảm nguyên tắc về quản lý Nhà nước trong giáo dục và dạy nghề và chưa bảo đảm các yêu cầu trong thực hiện cải cách hành chính.
 
ĐBQH Vi Thị Hương (Điện Biên): Giải pháp căn bản là nâng cao chất lượng đào tạo nghề luật sư
 
Việc mở rộng đối tượng được miễn đào tạo nghề luật sư như trong dự thảo Luật chưa phải là giải pháp căn bản để nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư. Giải pháp căn bản để nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư phải là nâng cao chất lượng đào tạo nghề luật sư. Đội ngũ luật sư phát triển trong thời gian qua đã đáp ứng được một phần yêu cầu của xã hội, tuy nhiên chưa thể đòi hỏi có thể có ngay một đội ngũ luật sư hùng hậu về số lượng và tốt về chất lượng trong khi nền kinh tế của nước ta vẫn còn nhiều khó khăn. Luật sư phát triển chủ yếu ở các thành phố lớn còn ở các tỉnh điều kiện KT - XH khó khăn, người dân chủ yếu nhờ đến đội ngũ trợ giúp viên pháp lý. Trong khi tố tụng sẽ còn thay đổi, cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện, để đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp dự thảo Luật cần quy định công bằng giữa tất cả các đối tượng được miễn đào tạo nghề luật sư. Phải chăng nên nâng cao chất lượng đào tạo, thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ luật sư hiện nay thay vì mở rộng các đối tượng được miễn đào tạo nghề luật sư chưa phù hợp.

Theo Báo cáo của Chính phủ số luật sư có trình độ đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế chỉ chiếm khoảng 1,2%, tôi không đồng tình khi để 2 chức danh công chứng viên và chấp hành viên được miễn đào tạo nghề luật sư. Các chức danh này mặc dù được đào tạo về luật nhưng không được tham gia tố tụng trực tiếp như điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán nên không thể đánh đồng việc miễn đào tạo nghề luật sư đối với các chức danh này được. Công chứng viên chủ yếu là thực hiện công chứng, được đào tạo về luật nhưng không được đào tạo nghiệp vụ xét xử, kỹ năng tranh tụng tại tòa nên không thể được miễn đào tạo về nghề luật sư. Chấp hành viên là người thực hiện giai đoạn cuối của tố tụng, không trực tiếp tham gia nghiên cứu giải quyết hồ sơ, không trực tiếp điều tra truy tố xét xử, chấp hành viên chủ yếu dùng biện pháp nghiệp vụ để thi hành phần dân sự của bản án đã có hiệu lực pháp luật, còn phần hình sự lại do cơ quan công an thực hiện nên không thể có kinh nghiệm trong tranh tụng được. Hơn nữa, luật sư được đào tạo về luật, đào tạo về biện luận và kỹ năng tham gia phiên tòa, trong khi chấp hành viên chú trọng đào tạo về Luật Thi hành án dân sự và nghiệp vụ thi hành án dân sự vừa không được tham gia tố tụng, vừa không được đào tạo về kỹ năng để làm luật sư thì cho dù có được miễn đào tạo, nhưng khi tham gia tập sự cũng không có nền tảng, kiến thức cơ bản để tập sự.

Điều 13 cũng cần phải quy định rõ đối với chức danh thẩm tra viên chính trong cơ quan tòa án được miễn đào tạo nghề luật sư, nhưng thẩm tra viên chính của cơ quan thi hành án thì không thể miễn đào tạo nghề luật sư được. Bởi vì hiện nay thẩm tra viên của cơ quan tòa án được đào tạo như đối với kiểm sát viên, thẩm tra thời gian đào tạo 1 năm và chủ yếu học về nghiệp vụ xét xử. Còn chức danh thẩm tra viên của cơ quan thi hành án thì lại được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ thi hành án dân sự và thời gian đào tạo chỉ có 6 tháng.

Về vấn đề bỏ cấp giấy chứng nhận người bào chữa đối với luật sư bào chữa, tôi đồng tình với loại ý kiến thứ nhất trong giải trình của Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp vẫn phải cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư, bởi lẽ giấy chứng nhận bào chữa là mối liên hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng và luật sư khi cấp giấy chứng nhận bào chữa là cơ quan tiến hành tố tụng đã loại trừ những trường hợp luật sư không đủ điều kiện tham gia bào chữa bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo bảo đảm để luật sư có mặt tại tòa theo giấy triệu tập của tòa án nên không thể bỏ cấp giấy chứng nhận bào chữa đối với luật sư.
 
ĐBQH Nguyễn Hữu Hùng (Tiền Giang): Bảo đảm mặt bằng chung đối với các chức danh tư pháp khác
 
Tôi tán thành với ý kiến thẩm tra của Ủy ban Tư pháp về sự cần thiết phải có giải pháp để từng bước nâng cao chất lượng của đội ngũ luật sư, quy định chặt chẽ hơn về điều kiện miễn đào tạo nghề luật sư, nhưng cần phải bảo đảm mặt bằng chung đối với các chức danh tư pháp khác. Đối với những người đã từng là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên kể cả thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên sơ cấp nên giữ như quy định hiện hành. Đối với công chứng viên, chấp hành viên, thừa phát lại, tôi nghĩ rằng, về nguyên tắc không đưa vào diện được miễn đào tạo nghề luật sư vì họ vẫn chưa qua đào tạo nghề tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, ở đây cũng có trường hợp trong trường hợp trước đó họ đã được đào tạo và hành nghề luật sư thì cũng có thể miễn.

Tôi đề nghị bổ sung thêm một loại đối tượng được miễn đào tạo nghề luật sư, nếu người đó đã từng làm giúp việc pháp lý được bổ nhiệm theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý. Theo quy định tại Điều 21 của Luật Trợ giúp pháp lý thì trợ giúp viên pháp lý là công dân Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn, năng lực, hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức, có bằng cử nhân luật, có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý, có thời gian làm công tác pháp luật từ 2 năm trở lên... Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước được làm việc tại trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, được Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp và hình thức là tham gia với tư cách là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo… thực hiện đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật. Do đó, theo tôi, một người đã thôi làm trợ giúp viên pháp lý thì được miễn đào tạo hành nghề luật sư là phù hợp.

Dự thảo Luật quy định đối với sĩ quan quân đội công tác trong lĩnh vực pháp luật từ 15 năm trở lên mới được miễn đào tạo nghề luật sư. Tôi đề nghị nghiên cứu hạ xuống còn 10 năm, vì quy định 15 năm là rất dài, hơn nữa quy định 15 năm công tác trong lĩnh vực pháp luật chưa thật rõ ý. Chúng ta nói miệng với nhau thì được, nhưng nói về định nghĩa thì rất khó. Nếu đã là thẩm phán của tòa án quân sự, kiểm sát viên của viện kiểm sát quân sự các cấp hay điều tra viên thì đã thực hiện theo quy định chung như quy định ở trên. Số còn lại thì tôi hiểu đó là những công việc khác gắn với pháp luật như là công tác thanh tra, công tác kiểm tra. Tôi nghĩ rằng với 10 năm hoạt động trong lĩnh vực này có thể được miễn đào tạo nghề luật sư là phù hợp. Mặt khác, số này chỉ có sau khi thôi phục vụ tại ngũ mới được hành nghề, theo quy định của Luật Cán bộ công chức và Luật sỹ quan Quân đội nhân dân chứ trong quá trình đã là sỹ quan quân đội thì không được làm việc này.
 
ĐBQH Đào Thị Xuân Lan (Hưng Yên): Khi tham gia tố tụng hình sự luật sư phải được cấp giấy chứng nhận người bào chữa
 
Tôi nhất trí với nội dung dự thảo Luật đã trình theo hướng khi luật sư tham gia tố tụng hình sự thì phải được các cơ quan điều tra truy tố và xét xử cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Nhưng theo tờ trình của Chính phủ thì còn ý kiến khác đề nghị bỏ quy định này vì cho rằng để bảo đảm cho việc nâng cao chất lượng tranh tụng của luật sư, tôi thấy việc cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư tham gia tố tụng hình sự là một thủ tục hành chính mà không phải là một thủ tục tố tụng. Cho nên việc cấp giấy chứng nhận cho luật sư tham gia tố tụng cũng không làm hạn chế đi bất cứ một quyền nào trong hoạt động của luật sư trong việc bào chữa và quan trọng là để bảo đảm cho luật sư được tham gia tố tụng, bảo đảm cho luật sư phải có mặt ngay trong từng giai đoạn tố tụng theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng. Mặt khác, việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư tham gia tố tụng và tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc theo dõi, quản lý hồ sơ vụ án cũng như quản lý bị can, bị cáo thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn của các cơ quan tiến hành tố tụng. Cho nên việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư tham gia tiến hành tố tụng là yêu cầu cần thiết.

Dự thảo Luật đã mở rộng, cho phép người thân của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được mời luật sư để bào chữa. Đây là quy định phù hợp với Luật Tố tụng hình sự cũng như phù hợp với Nghị quyết ngày 2/10/2004 thì Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao đã có hướng dẫn tại Nghị quyết số 03, nhưng hiện nay, Luật Luật sư hiện hành chưa quy định cho nên dự thảo Luật đưa vào là hợp lý. Để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng như bảo đảm hoạt động cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, dự thảo Luật đã giới hạn người thân của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những người thuộc diện hàng thừa kế thứ nhất. Nhưng trong thực tiễn cũng có rất nhiều các bị can, bị cáo cũng như người tạm giữ không có người thân thuộc diện hàng thừa kế thứ nhất thì có cho phép người thân thuộc diện hàng thừa kế thứ hai được mời người bào chữa để bảo vệ quyền lợi ích cho họ không bởi vì theo quy định của Bộ Tuật tố tụng hình sự thì họ có quyền nhờ người khác bào chữa. Tôi đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét thêm.

Có nên cho phép viên chức đang làm công tác giảng dạy pháp luật được hành nghề luật sư hay không? Hiện nay có ý kiến khác nhau nên Chính phủ trình 2 phương án. Tôi đồng ý với phương án thứ nhất trong báo cáo tiếp thu giải trình của Chính phủ ngày 4/6/2012 là cho phép giảng viên đang làm công tác giảng dạy pháp luật được hành nghề luật sư với các lý do trong Báo cáo giải trình, tiếp thu đã nêu. Bởi vì Luật Viên chức không cấm giảng viên hoạt động nghề nghiệp ngoài thời gian làm việc quy định trong hợp đồng làm việc, hợp đồng làm việc đối với viên chức không phải làm việc tất cả các ngày trong tuần, không phải đứng lớp tất cả giờ hành chính nên ngoài thời gian làm việc quy định trong hợp đồng làm việc họ có thể được làm.
 
ĐBQH Đặng Công Lý (Bình Định): Duy trì quy định cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư là cần thiết

 
Về điều kiện miễn đào tạo nghề luật sư, theo Điều 13 và tập sự hành nghề luật sư theo Điều 14 và 15, dự thảo Luật sửa đổi theo hướng quy định chặt chẽ hơn về điều kiện được miễn đào tạo nghề luật sư và thu hẹp các đối tượng miễn đào tạo và tập sự hành nghề luật sư. Theo Điều 13 dự thảo Luật thì điều kiện miễn đào tạo luật sư nhưng phải bảo đảm mặt bằng chung với các chức danh tư pháp khác và có sự phân định phù hợp với các loại chức danh tư pháp. Các đối tượng như thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên đã có thời gian công tác được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, trải qua thực tiễn công tác nhất định theo tôi không nên quy định phải có thời gian 5 năm trở lên giữ các chức danh đó mới miễn đào tạo nghề luật sư. Bởi vì đối với một sinh viên học 5 năm ra trường và về công tác tại ngành tòa án trong thời gian quy định 4 năm trở lên thì mới được đi học lớp nghiệp vụ xét xử. Lớp nghiệp vụ xét xử quy định là 1 năm, tổng cộng là 10 năm, mà khi học về chưa chắc đã được bổ làm thẩm phán sơ cấp mà phải có một quá trình công tác tốt, tiếp tục phấn đấu tốt thì mới được bổ nhiệm. Trong quá trình là 10 năm nếu quy định được bổ làm thẩm phán sơ cấp thì theo tôi không nên quy định phải có thời gian 5 năm trở lên giữ các chức danh đó mới miễn đào tạo nghề luật sư. Theo tôi nên bỏ quy định này và các đối tượng trên được miễn đào tạo nghề luật sư. Đối với các chức danh không phải chức danh tố tụng cần cân nhắc quy định bắt buộc phải qua thời gian đào tạo nghề luật sư và tập sự hành nghề luật sư, chẳng hạn, đối với công chứng viên, chấp hành viên, thừa phát lại những người này chưa được đào tạo nghề tiến hành tố tụng, cho nên không nên miễn đào tạo nghề luật sư.

Việc duy trì quy định cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư như quy định cũ trước đây là cần thiết và bảo đảm các thủ tục tố tụng cần thiết trong vụ án. Luật sư tham gia các vụ án theo luật định do các cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu như trường hợp bị cáo phạm tội ở tuổi chưa thành niên, người phạm tội có nhược điểm về thể chất và tinh thần, phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt là tử hình thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu luật sư bào chữa theo luật định, các cơ quan tiến hành tố tụng phải cấp giấy chứng nhận cho luật sư để luật sư thực hiện quyền bào chữa ở các giai đoạn tố tụng như giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và để cho bị can, bị cáo, người bị tạm giữ thực hiện quyền từ chối luật sư bào chữa và có thể yêu cầu luật sư khác bào chữa để bảo vệ quyền lợi cho mình.

Điều 27 điểm b, Khoản 3 về mở rộng đối tượng được quyền yêu cầu luật sư bào chữa, tôi thống nhất như dự thảo Luật, tức là cần mở rộng thêm ngoài người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì người thân của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của các đối tượng này cũng có quyền yêu cầu luật sư bào chữa. Nhưng luật chỉ ghi là người thân thì phải chỉ rõ người thân là người nào thì mới tạo điều kiện cho áp dụng pháp luật là thấp nhất. Việc mở rộng quyền cần bào chữa có ý nghĩa hết sức quan trọng, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của bị can, bị cáo hoặc người bị tạm giữ, nhất là trong điều kiện các đối tượng này đang bị giam giữ, đang bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì khó có thể yêu cầu người bào chữa.

Minh Vân lược ghi
Quay trở lại đầu trang