Cập nhật 19:21 | 18/10/2018 (GMT+7)
.

Bản chất của hợp tác xã chưa rõ nên nhiều quy định còn khiên cưỡng

17:13 | 19/06/2012
Sau 8 năm triển khai thực hiện, Luật Hợp tác xã đã bộc lộ những hạn chế như chưa làm rõ được bản chất hợp tác xã; vị trí, vai trò của kinh tế hợp tác trong nền kinh tế nhằm định hướng khuyến khích phát triển hợp tác xã kiểu mới, phát huy vai trò của hợp tác xã để cùng với các thành phần kinh tế khác đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước. Do vậy, cần làm rõ nguyên nhân của thực trạng trên, nhất là những nguyên nhân do hành lang pháp lý…

ĐBQH Đinh Thị Phương Khanh (Long An): Tài sản chung không chia gồm những loại hình nào?
 
Cần làm rõ căn cứ pháp lý quy định mức vốn góp thành viên hợp tác xã không vượt quá 20% vốn điều lệ hợp tác xã được quy định tại Điều 18 của dự thảo Luật. Theo giải trình của Ban soạn thảo về vấn đề này tại Báo cáo tiếp thu, giải trình về ý kiến đóng góp của ĐBQH tại Báo cáo số 4403 là chưa đủ sức thuyết phục vì xã viên góp nhiều vốn hay ít vốn một khi chấp nhận Điều lệ Hợp tác xã thì đều có một phiếu biểu quyết như nhau trong việc quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội xã viên như phương án kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh, phân phối thu nhập của hợp tác xã.

Về tổ chức quản lý hợp tác xã quy định tại Chương IV của dự thảo Luật cần có những quy định linh hoạt phù hợp với những trường hợp hợp tác xã ít thành viên, quy mô nhỏ để bảo đảm hoạt động có hiệu quả. Điều 30 quy định cơ cấu tổ chức quản lý hợp tác xã gồm đại hội thành viên hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc và ban kiểm soát, kiểm soát viên hợp tác xã có ít thành viên. Ví dụ có 7, 10, 20 thành viên thì việc triệu tập để họp thành viên cũng đơn giản. Đại hội thành viên đảm nhiệm luôn chức năng, nhiệm vụ của hội đồng quản trị, do đó có thể không tổ chức hội đồng quản trị và ban giám đốc cũng không cần nhiều người. Nếu việc tổ chức này được các thành viên hợp tác xã nhất trí và ghi vào điều lệ. Do đó tôi đề nghị cần bổ sung nội dung này vào Chương IV trong dự thảo luật.

Đối với tài sản không chia cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quy định tại Điều 51, tôi thống nhất quan điểm hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cần phải có tài sản không chia nhằm tạo ra sự phát triển bền vững của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tăng cường sự liên kết giữa các thành viên. Tuy nhiên, dự thảo Luật quy định về tài sản chung không chia bao gồm tài sản được hình thành từ nguồn vốn hỗ trợ nhà nước, tài sản được cho, biếu, tặng, tài sản tích lũy trong quá trình hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Trong trường hợp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã giải thể thì phần tài sản chung không chia do đại hội thành viên quyết định chuyển giao cho chính quyền địa phương hoặc tổ chức phi lợi nhuận quản lý, sử dụng để phục vụ mục đích chung của cộng đồng tại địa phương hoặc chuyển giao cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khai thác quản lý sử dụng vì mục tiêu phát triển phong trào hợp tác xã. Về nguyên tắc hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phải có tài sản chung không chia trong quá trình hoạt động nhưng cần phải quy định rõ gồm những loại tài sản nào, thuộc nguồn vốn nào? Thực tế cho thấy có những khối tài sản chung được hình thành do tích lũy mà không chia được, nhưng cũng còn rất nhiều loại tài sản chung của hợp tác xã được hình thành từ vốn góp của xã viên và các nguồn vốn phát triển sản xuất do hợp tác xã tích lũy như nhà xưởng, trụ sở, máy móc, thiết bị những tài sản này thuộc sở hữu xã viên và được sử dụng phân chia sẽ do điều lệ hợp tác xã quy định. Việc đánh đồng tất cả các tài sản chung không chia, trong đó có phần công sức đóng góp của các thành viên sẽ không khuyến khích các hợp tác xã trong quá trình hoạt động tiết kiệm để tích lũy tái đầu tư vào cơ sở vật chất. Tại Khoản 2, Điều 51, làm rõ nguồn vốn của tài sản chung không chia mà chưa quy định tài sản chung không chia gồm những loại hình nào. Quy định như dự thảo Luật sẽ dẫn đến một số bất cập về mặt pháp lý sẽ có các hậu quả, gây tâm lý hoang mang không an tâm đối với hợp tác xã, xã viên, đặc biệt đối với các hợp tác xã hoạt động hiệu quả có được trụ sở, cơ sở vật chất lớn tích lũy từ nhiều năm qua và cũng có thể các hợp tác xã sẽ tìm cách lách luật như giải thể tự nguyện trước khi luật mới này được áp dụng. Hợp tác xã sẽ không có động lực để trích lập các quỹ tiền cấp, chia cổ tức càng nhiều, càng tốt, vì trích lập vào quỹ không chia là mất quyền sở hữu trên thực tế. Do đó tôi kiến nghị cần xem xét lại điểm c, Khoản 2, Điều 51; đồng thời nên tiếp thu Khoản 3, Điều 35 cuả Luật Hợp tác xã năm 2003 về tài sản của hợp tác xã để bổ sung thêm cho rõ hơn trong luật các loại tài sản chung không chia sau này không phải hướng dẫn các văn bản dưới luật.
 
Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Cao Đức Phát: Chính sách ưu đãi cho hợp tác xã nông nghiệp phải khác so với hợp tác xã dịch vụ và doanh nghiệp
 
Tôi nhất trí với định nghĩa về hợp tác xã được nêu trong Điều 4 của dự Luật này. Định nghĩa như vậy thể hiện rõ hơn bản chất của hợp tác xã, hợp tác xã không phải là doanh nghiệp ở mục tiêu, quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. Về quan hệ, mục tiêu hợp tác xã là tối đa lợi ích của xã viên thay vì lợi nhuận; ở quan hệ sở hữu và quản lý, hợp tác xã vận hành theo đối nhân là chính chứ không phải theo vốn góp là chính và phân phối lợi nhuận theo mức độ sử dụng dịch vụ của xã viên và theo vốn góp chứ không phải chỉ theo vốn góp như ở trong doanh nghiệp. Do có sự khác biệt cơ bản như vậy, nên không thể quy định hợp tác xã là doanh nghiệp như luật trước đây. Quy định này hết sức quan trọng, là xuất phát điểm quyết định hướng của các quy định khác trong dự luật.

Thứ hai, theo tôi Lật này quy định các nguyên tắc chung cho tất cả các loại hình hợp tác xã nhưng cũng cần thể hiện rõ hơn đặc thù của một số loại hợp tác xã chính như hợp tác xã nông nghiệp và phải chặt chẽ để không bị lạm dụng. Hiện nay cả nước có 14.500 hợp tác xã, nhưng báo cáo mà tôi vừa có được thì có tới 9.085 hợp tác xã nông nghiệp với 6,7 triệu xã viên là các hộ nông dân nhỏ, lẻ. Về cơ bản, ngày nay xã viên vào hợp tác xã nông nghiệp, ruộng đất nhà ai vẫn của nhà ấy. Xã viên chỉ góp vốn để mua sắm một số tài sản chung cần thiết để làm dịch vụ cho chính mình mà một hộ không làm được hoặc làm kém hiệu quả. Thay vì chủ yếu làm dịch vụ cho người khác như các hợp tác xã dịch vụ, thậm chí 95% các hợp tác xã chuyển đổi thì xã viên không góp vốn thêm mà chỉ tiếp tục khai thác các hệ thống thủy lợi và cơ sở vật chất đã có từ trước. Do vậy, đa số các hợp tác xã nông nghiệp hiện nay có rất ít vốn, bình quân chỉ có 816 triệu đồng, trong đó 31% là vốn lưu động và thực tế 80% hợp tác xã đang làm dịch vụ thủy lợi, 30% làm dịch vụ cung ứng vật tư, 97% làm dịch vụ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, 20% làm dịch vụ làm đất... Do vậy, quy định về điều kiện thành lập, vận hành, và chính sách của Chính phủ đối với hợp tác xã nông nghiệp phải khác so với hợp tác xã dịch vụ và doanh nghiệp. Chính sách ưu đãi cho hợp tác xã nông nghiệp thực chất là chính sách của Đảng và Nhà nước đối với hộ nông dân nên phải khác so với hợp tác xã dịch vụ và doanh nghiệp. Những đặc thù đó nên được thể hiện trong Lật này, sau khi QH thông qua Chính phủ sẽ có Nghị định hướng dẫn thi hành nhưng Nghị định cũng không thể vượt qua được các quy định của luật.

Có một số quy định cần được rà lại, thể hiện sát hơn bản chất của hợp tác xã, trao quyền tự chủ nhiều hơn cho hợp tác xã và xã viên để không hành chính hóa hợp tác xã, lãi của đa số hợp tác xã nông nghiệp là từ thu dịch vụ phí từ xã viên nên việc chia lãi thực chất là trả lại khoản đã thu của xã viên. Do vậy nên để xã viên tự quyết và không nên đánh thuế. Nếu hợp tác xã có một số thu nhập nào đó từ dịch vụ bên ngoài thì cũng nên giảm thuế để khuyến khích và tạo điều kiện cho hợp tác xã phát triển. Đề nghị cân nhắc lại Điều 49 theo hướng này.
 
ĐBQH Cao Thị Xuân (Thanh Hoá): Đánh giá đầy đủ toàn diện hơn thực trạng của hợp tác xã hiện nay
 
Để Luật Hợp tác xã (sửa đổi) có tính khả thi qua thực tế tôi đề nghị Chính phủ cần phải đánh giá đầy đủ toàn diện hơn thực trạng của hợp tác xã hiện nay, không chỉ  từ khi Luật có hiệu lực đến năm 2008 như Tờ trình của Chính phủ. Ngoài các số liệu bổ sung theo ý kiến thẩm tra của Ủy ban Kinh tế như tốc độ tăng trưởng, đóng góp vào GDP, số lượng hợp tác xã, số xã viên, số lao động, quy mô về vốn, đất đai... cần đánh giá rõ các loại hình hợp tác xã như nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ. Thực tế hiện nay đang tồn tại tình trạng các hợp tác xã nông nghiệp chủ yếu dựa vào các ưu đãi của tài nguyên, của cơ chế theo cách thức hợp tác xã thời kinh tế, thời kế hoạch hóa tập trung. Đối với các hợp tác xã hoạt động dịch vụ hay sản xuất kinh doanh thì không khác các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Cần làm rõ nguyên nhân của thực trạng trên, nhất là những nguyên nhân do hành lang pháp lý trong đó Luật Hợp tác xã năm 2003 cần phải được mổ xẻ những tồn tại hạn chế để tiến hành trình QH xem xét sửa đổi.

Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng tham gia hợp tác xã, tôi cơ bản thống nhất với phạm vi điều chỉnh là quy định thành lập tổ chức quản lý và hoạt động của các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, cho phép cả đối tượng tham gia hợp tác xã là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam. Cần làm rõ bản chất của hợp tác xã và sự tồn tại khách quan mà các loại hình tổ chức kinh tế khác không thể thay thế, cũng như không thể nhầm lẫn được. Sự khác nhau căn bản đó là sự liên kết bình đẳng trong hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp sử dụng dịch vụ do chính mình tạo ra, có cơ chế thật sự dân chủ công khai, minh bạch và quyền lực thuộc về số đông xã viên mà không dựa trên đồng vốn.

Về chính sách ưu đãi hỗ trợ của nhà nước quy định tại Điều 7, tôi đồng tình quan điểm hợp tác xã được hưởng chính sách ưu đãi về thuế doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế, không nên quy định chính sách ưu đãi đối với ngành, nghề, lĩnh vực hoạt động vùng miền, địa bàn, khu vực đặc thù của từng hợp tác xã để bảo đảm sự bình đẳng chung của hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã.

Về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tại Chương VIII, cơ bản thống nhất như dự thảo luật. Tuy nhiên, hợp tác xã gắn liền với cơ sở và bản chất hợp tác xã là kinh tế tư nhân. Vì vậy, tôi đồng tình với báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế cần phân cấp quản lý cụ thể cho địa phương về việc thành lập, đăng ký, giải thể hỗ trợ, kiểm tra giám sát giúp đỡ hợp tác xã thì mới đảm bảo sự linh hoạt và tạo điều kiện cho hợp tác xã phát triển theo đúng bản chất của nó.

Đối với tổ chức liên minh hợp tác xã tại Điều 60, cần phân định rõ hơn, cụ thể hơn chức năng nhiệm vụ của liên minh hợp tác xã tỉnh, thành phố và chức năng quản lý nhà nước về kinh tế tập thể của Sở Kế hoạch và Đầu tư trong việc làm đầu mối tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương; cần quy định cụ thể và thống nhất về tổ chức bộ máy biên chế của liên minh hợp tác xã tỉnh, thành phố, tạo điều kiện cho tổ chức liên minh hợp tác xã hoạt động một cách có hiệu quả.
 
ĐBQH Nguyễn Thanh Tùng (Bình Định): Kinh tế tập thể hiện nay quá yếu kém, ngày càng lu mờ dần
 
Kinh tế tập thể hiện nay quá yếu kém, ngày càng lu mờ dần, không thực hiện được sứ mệnh của kinh tế nhà nước, trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, tôi nhất trí với việc sửa đổi, bổ sung Luật Hợp tác xã để tạo hành lang pháp lý, tháo gỡ những vướng mắc thúc đẩy kinh tế tập thể mà nòng cốt là những hợp tác xã phát triển mạnh trong thời gian tới.

Khó khăn lớn nhất của hợp tác xã hiện nay là thiếu vốn để đầu tư phát triển, với bình quân thu nhập chênh lệch 1 năm của hợp tác xã nông nghiệp như ở Bình Định khoảng vài trăm triệu đồng, sau khi trừ chi lương, chi phí hành chính, đánh thuế thu nhập doanh nghiệp nên việc trích lập quỹ đầu tư phát triển không được bao nhiêu, khoảng vài chục triệu đồng, nơi khá cũng chỉ khoảng 40 - 50 triệu đồng. Số tiền trên quá ít ỏi không đầu tư làm được việc gì. Vì vậy, tôi đề nghị QH miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp để giúp hợp tác xã tích lũy quỹ đầu tư phát triển trong điều kiện khó khăn về vốn của các hợp tác xã như hiện nay.

Bên cạnh ban hành chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp cần tháo gỡ những vướng mắc cho hợp tác xã nông nghiệp được vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất. Theo Nghị định 41 năm 2010 của Chính phủ, hợp tác xã nông nghiệp là một trong những đối tượng được vay vốn để phát triển nông nghiệp, nông thôn. Trên thực tế ở Bình Định hiện nay hợp tác xã không vay được vì hợp tác xã nông nghiệp không có tài sản để thế chấp ngân hàng. Toàn bộ đất đai xây dựng trụ sở, sân phơi, nhà kho của hợp tác xã mặc dù được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do miễn thuế tiền sử dụng đất nên ngân hàng không chấp nhận để thế chấp vay vốn làm cho hợp tác xã ngày càng khó khăn.

Về quy định nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã bắt buộc phải sử dụng sản phẩm dịch vụ của hợp tác xã, nếu không sử dụng sản phẩm dịch vụ nào của hợp tác xã trong một thời hạn liên tục nhất định mà không có lý do chính đáng thì đưa ra đại hội thành viên chấm dứt tư cách thành viên. Quy định này là cần thiết nhằm ràng buộc trách nhiệm giữa thành viên với hợp tác xã. Tuy nhiên, tôi còn phân vân ở chỗ, đối với hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp quy định này có thể thực hiện được nhưng đối với các loại hình hợp tác xã khác thì sao? Ví dụ hợp tác xã vận tải, hợp tác tiểu thủ công nghiệp, ở các hợp tác xã này có bắt buộc thành viên phải sử dụng sản phẩm và dịch vụ của hợp tác xã không và sử dụng như thế nào?
 
ĐBQH Vũ Thị Hương Sen (Hải Dương): Nguyên nhân sâu xa kìm hãm sự phát triển của hợp tác xã là gì?
 
Dự thảo Luật Hợp tác xã (sửa đổi) chưa thể hiện đầy đủ quan điểm chỉ đạo và chưa đạt mục tiêu của việc sửa đổi đề ra. Đó là chưa có cơ chế chính sách tạo thuận lợi hơn cho hợp tác xã hoạt động, chưa thể chế hóa nghị quyết Đảng trong luật. Điểm mới của dự thảo chủ yếu làm rõ hơn bản chất hợp tác xã và chỉnh sửa sắp xếp lại trật tự, câu từ một số điều khoản trong luật hiện hành và đưa thêm một điều cấm gồm 8 khoản vào luật mới. Vì vậy, tôi e rằng luật năm 2003 thoáng hơn mà kinh tế hợp tác xã vẫn chậm phát triển, số lượng hợp tác xã giảm dần, luật mới bó hơn sẽ làm cho kinh tế hợp tác xã khó phát triển hơn so với trước đây. Bởi vậy tôi đề nghị cần xác định rõ hơn nguyên nhân sâu xa kìm hãm sự phát triển của hợp tác xã để tháo gỡ và quy định cụ thể hơn các chính sách của nhà nước khuyến khích hỗ trợ hợp tác xã phát triển.

Phải tiếp tục thừa nhận hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp đặc thù hoặc hợp tác xã hoạt động như doanh nghiệp theo luật hiện hành. Như thế hợp tác xã vừa có đủ quyền tự chủ trong kinh doanh vừa tự khẳng định trên thị trường sản phẩm dịch vụ phải có tính cạnh tranh hiệu quả mới được xã viên chấp nhận. Tôi không đồng ý với dự thảo về việc chấm dứt tư cách thành viên hợp tác xã khi không sử dụng dịch vụ vì xã viên tham gia vào hợp tác xã để được cải thiện tình hình kinh tế, sứ mệnh hỗ trợ thành viên chỉ được thực hiện khi xã viên tự nguyện sử dụng dịch vụ của hợp tác xã. Mặt khác điều này trái với nguyên tắc kinh tế thị trường khi khách hàng có quyền quyết định mua bán sản phẩm dịch vụ.

Dự thảo có chủ ý hạn chế tỷ lệ giao dịch của hợp tác xã với thị trường theo tỷ lệ do Chính phủ quy định. Điều này vi phạm quyền tự chủ kinh doanh của hợp tác xã, sẽ gây bất lợi cho hợp tác xã trong cạnh tranh, qua đó gây thiệt hại cho chính xã viên. Bởi giao dịch với khách hàng ngoài thành viên hợp tác xã có thể cải thiện rõ rệt kết quả kinh doanh và hoạt động kinh tế của hợp tác xã, nhờ đó hợp tác xã có thể cân đối được những biến động về số lượng sản phẩm và thích ứng với thị trường tốt hơn, càng có nhiều khách hàng khác nhau thì càng có lợi trong phân tán rủi ro.

Tôi không đồng tình việc dự thảo quy định phân phối lợi nhuận chủ yếu theo mức độ sử dụng dịch vụ chứ không theo vốn góp, điều này không chỉ khó khả thi mà còn gây bất hợp lý đối với những người góp vốn lớn, có nguy cơ dẫn đến không khuyến khích xã viên góp vốn chỉ đóng góp tối thiểu, hợp tác xã có nguy cơ suy yếu vì đã thiếu vốn lại càng thiếu vốn hơn. Trong thực tế hiện nay, đại bộ phận các hợp tác xã chỉ phân phối lợi nhuận theo vốn góp, việc phân phối lợi nhuận theo mức độ sử dụng dịch vụ hầu như chưa được ghi nhận.

Về tài sản không chia của hợp tác xã, nguyên tắc là xã viên có quyền sử dụng tài sản và trang thiết bị của hợp tác xã, trong trường hợp giải thể xã viên có quyền được chia tài sản hợp tác xã đem thanh lý, kể cả quỹ dự phòng, dự trữ theo luật định, do đó được chia các tài sản tăng thêm do hợp tác xã làm ra, vì xã viên là những người sở hữu hợp tác xã. Việc không cho phép chia tài sản tích lũy nhiều năm của xã viên kể cả khi hợp tác xã giải thể sẽ gây tâm lý không tốt đối với xã viên vì bị thiệt thòi về tài sản, quyền sử dụng đất, trụ sở thuộc sở hữu của hợp tác xã nếu bị coi là tài sản chung không thể chia, có thể dẫn đến hợp tác xã không thể thế chấp vay vốn ngân hàng được.

Quy định về tổ chức đại diện hợp tác xã cần làm rõ hơn trên cơ sở đánh giá tổng kết thực tiễn những năm qua. Theo đó có thể khẳng định vai trò, vị trí của liên minh hợp tác xã là một tổ chức kinh tế xã hội đại diện cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực. Trong gần 20 năm qua, liên minh hợp tác xã góp phần quan trọng phát triển kinh tế tập thể theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, Khóa IX. Vì vậy, luật cần quy định rõ về hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của liên minh hợp tác xã ít nhất như Luật Hợp tác xã năm 2003; cần quy định rõ thêm về chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã, đặc biệt chính sách ưu tiên hỗ trợ đối với hợp tác xã nông nghiệp. 
 
ĐBQH Đồng Hữu Mạo (Thừa Thiên Huế): Chưa nói rõ bản chất của hợp tác xã nên nhiều quy định rất khiên cưỡng
 
Về bản chất của hợp tác xã tại Điều 4 của dự thảo đã nêu định nghĩa hợp tác xã nhưng theo tôi ở đây mới nêu hình thức biểu hiện bên ngoài của hợp tác xã, chưa nói rõ bản chất của hợp tác xã cho nên nhiều quy định ở phần sau rất khiên cưỡng và có nhiều quy định rất bất hợp lý, ví dụ tại Điều 9 quy định giới hạn sản phẩm dịch vụ không cung ứng ra bên ngoài. Đặc biệt trong phần giải trình của dự thảo nói ý do sợ hợp tác xã nếu cung ứng sản phẩm và dịch vụ ra bên ngoài nhiều, tỷ lệ lớn sẽ trở thành một doanh nghiệp, như vậy không đúng bản chất của hợp tác xã. Theo tôi chỗ này rất vô lý, trái với mong muốn là hợp tác xã làm ăn ngày càng tốt lên để mang lại lợi ích cho xã viên, trong khi đó lại giới hạn sản phẩm dịch vụ ra bên ngoài. Chỉ có hợp tác xã nông nghiệp giai đoạn đầu của hợp tác thì mới cung ứng dịch vụ cho nội bộ hợp tác xã là phần lớn, khi hợp tác xã nông nghiệp sau này làm ăn tốt rồi thì cung ứng dịch vụ ra bên ngoài nhiều hơn để mang lại lợi nhuận nhiều hơn.

Đối với các hợp tác xã khác như dịch vụ, thương mại, tiểu thủ công nghiệp... thì mục đích ban đầu của những người lao động tham gia hợp tác xã, mục đích chính của không phải dịch vụ cho bản thân của từng thành viên mà chính là đi tìm lợi nhuận. Ví dụ 10 lao động có tay nghề về xây dựng dựa vào nhau để thành một hợp tác xã xây dựng thì đâu phải phục vụ xây dựng cho từng thành viên mà cung ứng dịch vụ xây bên ngoài để thu lợi nhuận về cho 10 thành viên thì làm càng nhiều càng tốt, tại sao lại hạn chế. Điều này quy định rất vô lý, vô lý này xuất phát từ chỗ chưa nhận thức đúng bản chất của hợp tác xã. Quy định điều kiện thành lập hợp tác xã, tại Điều 14 nói muốn trở thành thành viên hợp tác xã thì phải có nhu cầu sử dụng dịch vụ sản phẩm của hợp tác xã. Điều đó chỉ đúng với một số ngành, nghề của hợp tác xã.

Liên quan đến chấm dứt tư cách thành viên hợp tác xã... quy định này tôi thấy không hợp lý. Theo quan điểm của tôi, định nghĩa hợp tác xã là một tổ chức kinh tế do những người lao động yếu thế trong sản xuất, kinh doanh góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật này nhằm thông qua tổ chức kinh tế đó để phối hợp trong sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn. Những dấu hiệu cần lưu ý đó là những người lao động yếu thế trong sản xuất kinh doanh góp vốn, góp sức. Còn giải thích người lao động yếu thế trong sản xuất kinh doanh như thế nào, tôi nghĩ vấn đề này là về kỹ thuật lập pháp chắc chắn phải nói được. Chừng nào người lao động yếu thế chưa thay đổi bản chất là yếu thế và chưa thay đổi ý định góp vốn, góp sức cùng nhau thì bản chất hợp tác xã chưa thay đổi. Chỗ này tránh tình trạng nói kinh doanh nhiều, cung ứng dịch vụ ra bên ngoài sẽ dẫn tới thay đổi hoàn toàn bản chất hợp tác xã.
 
Vấn đề thứ hai, luật này càng ngày càng đi xa với nhu cầu thực tế. Thực sự năm 2003 chúng ta thấy Luật Hợp tác xã đi xa rồi nhưng bây giờ lại càng đi xa nữa. Bởi vì cái chính hiện nay là người lao động có nhu cầu hợp tác với nhau, nhưng hiện nay bản thân người lao động chưa quen lao động hợp tác theo kiểu mới, nên chăng về khuôn khổ pháp lý phải tạo ra những luật gần. Ví dụ như mô hình quản lý hợp tác xã phải gần để dễ tiếp cận, sau đó mới tập dần từ thấp lên cao, quy định ngày càng lớn. Bây giờ quy định là hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc tôi thấy xa quá, và người lao động khó tiếp cận, có thể họ liên kết với nhau theo mô hình tổ chức để hình thành hợp tác xã, tôi thấy hoàn toàn không đúng. Nên chăng luật này đi sát hơn, có thể đi vào mô hình thấp hơn. Hiện nay quy định về tổ hợp tác trong Luật Dân sự có nói nhưng tôi cho rằng không đủ để thúc đẩy cho kinh tế hợp tác. Nên chăng luật này quy định rõ hơn, cụ thể hơn, sát với người dân, đừng quy định cao xa quá sẽ không thúc đẩy được. 

Minh Vân lược ghi
Quay trở lại đầu trang