Cập nhật 01:21 | 20/10/2018 (GMT+7)
.

Tiếp tục khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của nông nghiệp, nông thôn trong việc góp phần ổn định và phát triển KT - XH

17:16 | 05/06/2012
Hôm nay, 5/6, QH dành trọn một ngày để thảo luận về việc thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Báo cáo của UBTVQH giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã khái quát được bức tranh tổng thể với những kết quả, thành tựu cũng như những mặt hạn chế, tồn tại…

ĐBQH Phương Thị Thanh (Bắc Kạn): Nhà nước đã dành những nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực tam nông…
 
Qua báo cáo giám sát và qua kết quả thực hiện tại địa phương cho thấy, nhà nước đã dành những nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực tam nông, nhất là giai đoạn 2009 - 2011, số vốn đầu tư đã tăng gấp hai lần so với 3 năm trước đó. Cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được ưu tiên đầu tư và ngày càng hoàn thiện, có tác động tích cực đến sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của hàng năm. Tuy nhiên, Báo cáo cũng cho thấy, nguồn lực đầu tư nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn hạn chế, chỉ đáp ứng khoảng 55 - 60% so với nhu cầu. Về cơ chế phân bổ vốn đầu tư chủ yếu theo kế hoạch hàng năm, quyết định đầu tư chưa bảo đảm cân đối nguồn vốn và nhu cầu thường cao hơn nhiều so với khả năng cân đối từ ngân sách của Trung ương, dẫn đến đầu tư còn dàn trải, hiệu quả đầu tư không cao. Về cơ sở hạ tầng nông thôn mặc dù đã được quan tâm đầu tư nhưng nhiều địa phương vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc. Tỷ lệ các thôn, bản chưa có điện còn khá cao; hệ thống giao thông nông thôn còn nhiều khó khăn; số trường học, trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia còn thấp so với các vùng khác; trụ sở làm việc của xã, nhà văn hóa xã chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức…

Ngoài ra, việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia tuy đã đạt kết quả tích cực trong công tác xóa đói giảm nghèo trong khu vực nông dân, nông thôn song nguồn vốn đầu tư cho chương trình mục tiêu quốc gia còn dàn trải, phân bổ hàng năm thường muộn, thường từ tháng 4, tháng 5 hàng năm mới phân bổ và thủ tục hành chính trong thực hiện các chương trình này còn rườm rà, chi phí quản lý đầu tư còn lớn, hiệu quả đầu tư thấp. Về tỷ lệ hộ nghèo ở các địa phương miền núi còn rất cao, hộ cận nghèo còn lớn và chênh lệch thu nhập giữa các nhóm hộ, các vùng, các dân tộc còn lớn, khoảng cách thu nhập giữa các vùng có xu hướng ngày càng tăng. Việc thực hiện chính sách phát triển sản xuất lâm nghiệp đã đạt được kết quả quan trọng, vừa đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, vừa cải thiện môi trường sinh thái, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người dân ở vùng cao, tuy nhiên các chính sách đầu tư chỉ mới mang tính chất hỗ trợ, mức đầu tư còn thấp, chẳng hạn như mức khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng là 200.000/1ha/1 năm, chỉ bằng 1/2 mức thu nhập theo tiêu chí hộ nghèo hiện nay; các chính sách hưởng lợi từ rừng của người dân chưa được cụ thể và chưa khuyến khích người dân cũng như các thành phần kinh tế tham gia tích cực vào phát triển và bảo vệ rừng, làm giàu từ rừng. Đây cũng là một trong các nguyên nhân của nạn cháy rừng và chặt phá rừng trong thời gian vừa qua. Bên cạnh đó, chính sách pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn rất rộng và toàn diện nhưng định kỳ hàng năm và cả giai đoạn chưa có đánh giá riêng cho lĩnh vực này nên một số chính sách pháp luật đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn không còn phù hợp, chậm được khắc phục, sửa đổi, bổ sung cho sát với thực tiễn.

Do vậy, đề nghị Chính phủ xem xét sớm ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư trung hạn và dài hạn ở tất cả các nguồn vốn đầu tư công. Điều chỉnh nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ nguồn vốn đầu tư theo hướng tăng điểm số các tiêu chí về dân số, dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo và đưa thêm tiêu chí tính điểm đối với các tỉnh có diện tích rừng và đất rừng trên diện tích tự nhiên như tiêu chí đất trồng lúa hiện nay. Ưu tiên tăng nguồn vốn cho các địa phương còn khó khăn để sớm hoàn thiện kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời đề nghị Trung ương sớm ban hành nghị quyết cho giai đoạn 2012 - 2020 để thay thế cho Nghị quyết 37 về chương trình phát triển kinh tế xã hội vùng trung du và miền núi phía Bắc để tạo cho vùng có điều kiện phát triển.

Rà soát tổng thể các chương trình mục tiêu quốc gia đang thực hiện để bổ sung mục tiêu cụ thể, rõ ràng gắn với kế hoạch 5 năm và cả giai đoạn. Sớm xem xét phân bổ nguồn vốn cho chương trình mục tiêu quốc gia, cho giai đoạn 2013 - 2015. Giao địa phương chủ động lựa chọn phân bổ từng dự án, từng nguồn vốn để ưu tiên thực hiện và đảm bảo mục tiêu chương trình đề ra.

Nhà nước cần tăng ngân sách cho phát triển và bảo vệ rừng nhằm nâng khả năng ứng phó với thích ứng biến đổi khí hậu và sớm nâng mức giao khoán, khoanh nuôi bảo vệ rừng, mức đầu tư trồng rừng và các chính sách hỗ trợ lương thực trong những năm đầu để người dân sống ổn từ rừng. Đề nghị Chính phủ xem xét, ban hành cơ chế giao khoán bảo vệ rừng và phát triển rừng đặc dụng, gắn với hưởng lợi và nghĩa vụ của các hộ giao khoán nhằm tháo gỡ khó khăn cho các hộ dân sống ở vùng lõi, vùng đệm ở vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khuyến khích các hộ dân bảo vệ rừng và gắn bó với rừng.

Tăng cường công tác kiểm tra giám sát thực hiện chính sách đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Định kỳ cùng với việc đánh giá kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, cần quan tâm đánh giá tổng mức đầu tư và các tiêu chí thực hiện chỉ tiêu về kinh tế xã hội giữa các vùng để có sự so sánh, đánh giá và kịp thời sửa đổi, bổ sung các chính sách pháp luật đầu tư công cho lĩnh vực tam nông cho phù hợp.
 
ĐBQH Nguyễn Thu Anh (Lâm Đồng): Bất cập về ban hành chính sách pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Sau khi Nghị quyết Trung ương 7 được ban hành, đầu tư cho tam nông đã được quan tâm nhiều hơn và mức đầu tư ngày càng tăng rõ rệt. Chính nhờ vậy, kết cấu hạ tầng KT - XH ngày càng được tăng cường và hoàn thiện, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn theo hướng hiện đại, từng bước giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện được môi trường sinh thái. Tuy nhiên, trong kết quả giám sát vẫn còn những tồn tại và hạn chế, bất cập về ban hành chính sách pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Thứ nhất là một số văn bản hướng dẫn ban hành chưa kịp thời, đầy đủ còn chồng chéo, mâu thuẫn gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Hai là cơ chế phân cấp về quyết định đầu tư và phân bổ vốn theo hướng tăng cường quyền quyết định cho các cấp là phù hợp nhưng lại thiếu các biện pháp đồng bộ và thiếu kiểm tra, kiểm soát dẫn đến tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án đầu tư mà không tính đến khả năng về nguồn vốn. Ba là việc khống chế hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân tại Điều 70 Luật Đất đai đang gây khó khăn trong việc mở rộng diện tích canh tác và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm. Bốn là việc tiếp cận các nguồn vốn vay của các ngân hàng thương mại cũng hết sức khó khăn do không đáp ứng được yêu cầu về tài sản thế chấp, thủ tục phức tạp, rườm rà, nhất là ở những vùng dân tộc thiểu số.

Chính vì còn tồn tại những hạn chế và vướng mắc như trên đã ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chính sách pháp luật về đầu tư cho tam nông như do nguồn lực đầu tư chủ yếu còn dựa vào ngân sách nhà nước, chưa huy động được nguồn lực của toàn xã hội nên vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn chỉ đầu tư được khoảng 55 - 60% yêu cầu, tình trạng đầu tư còn dàn trải kéo dài, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, một số nơi xảy ra sai phạm trong quá trình đầu tư gây ra lãng phí, thất thoát tiền của Nhà nước. Việc đầu tư thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia nơi thì quá nhiều, nơi thì quá ít do chương trình chồng chéo, lồng ghép chưa tốt. Đầu tư chỉ mới chú trọng vào hạ tầng, cụ thể là các công trình thủy lợi, chưa chú trọng đến nâng cấp đồng bộ hóa hệ thống. Ngoài ra hệ thống giao thông đường nước sạch chưa được quan tâm đúng mức, nhất là ở vùng hải đảo, biên giới, vùng cao chưa có điện, cơ sở vật chất ở trường học một số nơi còn quá nghèo nàn, cơ sở y tế tuyến huyện, xã còn hạn chế khiến trang thiết bị và các đội ngũ y tế năng lực còn hạn chế. Đầu tư công cho khoa học công nghệ cũng chưa được quan tâm đúng mức.

Tôi đề nghị Chính phủ sớm trình sửa đổi Luật Đất đai vào Kỳ họp thứ Tư tới để khắc phục những hạn chế bất cập quy hoạch lại việc sử dụng đất. Cần rà soát một cách chi tiết việc sử dụng đất đai trên phạm vi toàn quốc phải xác định cho được quỹ đất cơ bản dùng cho nông nghiệp, đặc biệt là đất lúa. Cần thực hiện công bằng trong việc thu hồi đất, phải khẳng định chủ trương giao đất, thuê đất, ổn định lâu dài cho người dân, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân chuyển quyền sử dụng đất yên tâm đầu tư phát triển sản xuất lâu dài. Cần bồi hoàn hợp lý công bằng cho người dân, Nhà nước thu hồi một phần chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất để phát triển cơ sở hạ tầng cho nông thôn, phải thấy rằng việc này do chúng ta làm chưa tốt nên gây bức xúc cho nông dân.

Thứ hai xây dựng tiêu chí chương trình xây dựng nông thôn mới phải bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế từng vùng miền, từng địa phương khi xây dựng cần có sự sắp xếp ưu tiên theo thứ tự một cách hợp lý, phù hợp với thực tế của các địa phương theo mức độ quan trọng và nguồn lực thực hiện.

Thứ ba, tăng cường phân cấp cho các địa phương trong việc phân bổ nguồn vốn được giao để thực hiện các mục tiêu đề ra, bảo đảm sử dụng vốn hiệu quả, tránh dàn trải, kéo dài, đồng thời cần huy động sự hỗ trợ của các nguồn lực khác.

Thứ tư, đề nghị vốn, ngân sách nhà nước tập trung có trọng tâm hoàn thành dứt điểm ưu tiên cho các công trình trọng điểm và đề nghị quan tâm đặc biệt đối với các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

Thứ năm, đầu tư cho khoa học công nghệ phải đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ cán bộ nông nghiệp các cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ học tập tiếp cận nhanh với khoa học công nghệ cao, nhằm nâng cao năng lực chuyên môn.

Thứ sáu, khuyến khích các ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay vốn với cơ chế ưu đãi, giảm bớt những thủ tục đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn; tăng nguồn vốn cho ngân hàng chính sách xã hội…
 
ĐBQH Trần Văn Tấn (Tiền Giang):  Chưa giải quyết tốt các vấn đề về chất lượng, tiêu chuẩn, thương hiệu sản phẩm …
 
Các chính sách pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nôn thôn vừa qua đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế của đất nước nói chung và của lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn nói riêng, trong đó, đáng chú ý nhất là các chính sách pháp luật có tính chất động lực về khai thác sử dụng đất đai phát triển sản xuất và triển khai ứng dụng khoa học công nghệ, chính sách tín dụng nông thôn và xóa đói giảm nghèo, chính sách về xây dựng kết cấu hạ tầng thủy lợi và giao thông nông thôn, chính sách về quan hệ sản xuất và hỗ trợ khuyến khích kinh tế trang trại đã tạo điều kiện huy động hiệu quả các nguồn lực góp phần thay đổi diện mạo nông thôn theo hướng hiện đại. Từng bước giải quyết việc làm, giảm nghèo đảm bảo an sinh xã hội ngày càng tốt hơn, đời sống vật chất tinh thần với nông dân ngày càng được cải thiện.

Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế vướng mắc như các văn bản hướng dẫn thi hành còn chậm được ban hành, nội dung của một số quy định hiện hành đã bộc lộ nhiều bất cập không còn phù hợp, các chính sách đầu tư phát triển sản xuất ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông, lâm, ngư nghiệp trong giai đoạn hiện nay. Chưa giải quyết tốt các vấn đề về chất lượng, tiêu chuẩn, thương hiệu sản phẩm dẫn đến sản phẩm nông nghiệp khi xuất khẩu thường gặp khó khăn về rào cản kỹ thuật, tiêu chuẩn an toàn, tiêu chuẩn về giá cả cạnh tranh. Các chính sách đầu tư hỗ trợ sản xuất chưa kịp thời và chưa phù hợp với thực tiễn như việc thu mua lúa đông xuân tạm trữ vừa qua được thực hiện vào lúc người nông dân đã bán hết lúa; việc quy định tỷ lệ nội địa hóa máy móc được hỗ trợ lãi suất cho vay với mức 60% là quá cao.

Các chính sách phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác, chính sách khuyến khích các loại hình doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, chính sách xây dựng các mô hình liên kết sản xuất chế biến tiêu thụ trong khu vực nông nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển. Về tín dụng, việc quy định các thủ tục cần thiết để được nhận sự hỗ trợ kinh phí đầu tư cho nông nghiệp và tín chấp còn khá rườm rà, còn nhiều bất cập trong việc giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất, giữa quyền của nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai khi thực hiện thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế và quyền lợi của người dân. Một số tiêu chí trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới chưa phù hợp.

Từ thực tiễn của quá trình tổ chức thực hiện chính sách pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đề nghị QH nghiên cứu xem xét sớm sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai theo hướng giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân; tăng cơ cấu đầu tư cho phát triển nông nghiệp tạo điều kiện cho việc hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, thâm canh các loại cây trồng, vật nuôi, thủy sản; nhân rộng dự án xây dựng cánh đồng mẫu lớn, thực hiện chính sách đồng bộ cho phát triển sản xuất lúa.

Nhà nước cần tiếp tục khẳng định về vai trò đặc biệt quan trọng của nông nghiệp, nông thôn trong việc góp phần ổn định và phát triển KT - XH. Đề nghị Chính phủ cần tiếp tục ban hành những chính sách cụ thể hoặc điều chỉnh những chính sách không còn phù hợp nhằm ưu tiên đầu tư có hiệu quả về cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi ở khu vực nông thôn, hỗ trợ nông dân đầu tư cơ giới hóa, thực hiện ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để phục vụ sản xuất, nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp; thực hiện các chế độ ưu đãi trực tiếp đối với người trồng lúa để giảm rủi ro và giúp người trồng lúa thực sự có lãi, nâng cao mọi mặt đời sống ở khu vực nông thôn. Chính phủ cần xem xét sửa đổi Nghị định 66 ngày 7/7/2006 về phát triển ngành, nghề nông thôn nhằm khắc phục sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước giữa Bộ Công thương và Bộ NN và PTNT. Đối với Quyết định số 63 ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản trong đó nêu rõ chỉ thực hiện việc cho vay vốn và hỗ trợ lãi suất đối với các loại máy móc, thiết bị phải bảo đảm giá trị sản xuất trong nước trên 60%. Quy định này đã gây khó khăn trong việc giải ngân thực hiện hỗ trợ vốn cho nông dân, nhất là nông dân vùng ĐBSCL do hiện nay hầu hết các loại máy móc được người nông dân sử dụng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp có hiệu quả là những loại máy móc không đáp ứng được yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa theo Quyết định số 63. Do vậy, Chính phủ cần xem xét, sửa đổi các quy định có liên quan theo hướng giảm tỷ lệ nội địa hóa máy móc thiết bị để hỗ trợ lãi suất. Chính phủ cần có cơ chế chính sách về vốn để ngành điện đầu tư hệ thống điện nông thôn phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, ngành nghề nông thôn theo hướng hiện đại, hiệu quả, phù hợp tiến trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. Vì từ khi thực hiện Luật Điện lực, toàn bộ hệ thống điện tổ hợp đã được bàn giao về ngành điện quản lý, nhưng đã qua rất nhiều năm tiếp nhận ngành điện vẫn chưa có đủ vốn để đầu tư sửa chữa, cải tạo nâng cấp lưới điện, đảm bảo phục vụ an toàn hiệu quả cho sinh hoạt và sản xuất của người dân vùng nông thôn. Chính phủ cần sửa đổi một số tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại Quyết định số 491 ngày 16/4/2009 về ban hành tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới cho phù hợp hơn với thực tế cuộc sống và yêu cầu phát triển hiện nay.
 
ĐBQH Trần Xuân Vinh (Quảng Nam): Tỷ lệ vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn so với GDP ngày càng giảm
 
Thực tế cho thấy, tỷ lệ vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn so với GDP ngày càng giảm, mặc dù số tuyệt đối tăng. Theo Báo cáo giám sát, tổng vốn đầu tư năm 2006 - 2011 là hơn 433 nghìn tỷ đồng. Tính bình quân mỗi năm cho mỗi xã đầu tư kết cấu hạ tầng khoảng 10 tỷ, chưa kể cho các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn, tính bình quân như vậy thì phát triển kết cấu hạ tầng rất khó khăn. Trong khi đó địa bàn nông thôn miền núi rộng lớn, phải chia sẻ nhiều danh mục, nhiều địa phương nên thiếu trọng tâm, trọng điểm, đồng thời cơ chế lồng ghép các nguồn vốn đầu tư hiện nay còn nhiều bất cập, cho nên hiệu quả đầu tư còn thấp trong đó có nguyên nhân các nguồn vốn phân tán từ các bộ, ngành liên quan.

Hai, chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của các bộ, ngành còn yếu, từ khâu xây dựng chiến lược cho đến dự báo thị trường, thực tế cũng đã cho thấy điều này. Chính vì sự yếu kém đó, nông dân trong những năm gần đây liên tục khốn đốn trong việc tiêu thụ sản phẩm. Tỷ lệ tăng giá đầu vào vật tư nông nghiệp tăng nhanh hơn rất nhiều lần so với tỷ lệ tăng giá của sản phẩm nông nghiệp, như vậy đời sống của nhân dân rất khó khăn bởi vì lợi nhuận chủ yếu ở khâu phân phối, tư thương ép giá. Phương thức chỉ đạo sản xuất còn nặng về hành chính hóa, ngoại trừ một số cây trồng như cà phê, tiêu, cá da trơn nước ta có ưu thế trong xuất khẩu, trong khi đó còn lúng túng trong quy hoạch hình thành vùng nguyên liệu, dẫn đến phát triển tự phát, nhân dân thiếu niềm tin. Các hình thức tổ chức ở nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng hóa, kinh tế hợp tác và hợp tác xã chậm được đổi mới, thực sự chưa có gì đổi mới, trong khi chuẩn bị sửa đổi, bổ sung Luật Hợp tác xã. Năng suất lao động nông nghiệp thấp nhiều lần so với các nước trong khu vực. Lao động nông nghiệp của nước ta chỉ cung cấp sản phẩm nông nghiệp cho khoảng từ 3 - 5 người trong khi đó các nước trên thế giới có thể cung cấp 10 - 40 - 50 người. Chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp chậm thay đổi, đặc biệt là về chất, chủ yếu chúng ta những mặt hàng là xuất khẩu thô, giá trị thấp.

Để khắc phục, theo tôi cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân phù hợp với từng vùng miền. Thời gian qua có nhiều cơ chế, chính sách chưa phù hợp với từng vùng miền. Thực hiện tốt công tác dự báo định hướng thị trường tiêu thụ sản phẩm gia nhập với thị trường khu vực và thế giới. Cần có giải pháp mạnh mẽ hơn trong việc chuyển dịch cơ cấu lao động trong nội bộ ngành đó là vấn đề cấp thiết, tất yếu của CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn, nông dân theo chủ trương của Đảng. Thông qua việc xây dựng phát triển ngành công nghiệp công nghệ cao nhất là công nghệ sinh học đủ sức cạnh tranh với thị trường cũng như tạo điều kiện để nâng cao chất lượng tă ng trưởng gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Nghiên cứu và cam kết WTO để có cơ chế chính sách hỗ trợ cho nông dân, ngư dân, đặc biệt là trong việc vay vốn ưu đãi để phát triển nguyên liệu, phát triển hệ thống thủy lợi, hỗ trợ nghiên cứu khoa học. Riêng khu vực duyên hải miền Trung thực tế còn lúng lúng trong việc xây dựng vùng nguyên liệu. Khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng tái định cư, nhất là khu vực nông thôn, nông dân, miền núi. Đặc biệt xây dựng mối quan hệ hài hòa trong việc bồi thường giải tỏa giải phóng mặt bằng, đặt lợi ích của người dân lên trước.

Tiếp tục xây dựng củng cố nâng cao năng lực quản lý điều hành của hệ thống chính quyền cơ sở, trong đó có chính sách đánh giá năng lực. Đồng thời với đó là linh hoạt trong việc phát triển kết cấu hạ tầng, không nên giao kế hoạch hàng năm quá cụ thể. Nên chăng, QH xem xét trong kế hoạch trung hạn, kế hoạch hàng năm ấn định tỷ lệ vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng so với GDP để các địa phương chủ động hơn. Việc xây dựng các xã nông thôn mới cũng đề nghị Trung ương hỗ trợ vốn đầu tư cao hơn.
 
ĐBQH Trương Minh Hoàng (Cà Mau): Sớm có văn bản pháp luật thống nhất về đầu tư công đặc biệt là đầu tư công trong nông nghiệp, nông dân và nông thôn
 
Về ban hành chính sách pháp luật về đầu tư công, trong Báo cáo đã nêu số lượng văn bản đã được ban hành khá nhiều. Từ Đại hội lần thứ VI tới nay, nói đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn, từng lĩnh vực có đến 12 nghị quyết trong các kỳ đại hội và hội nghị giữa nhiệm kỳ cũng như các nghị quyết, kỳ họp Ban chấp hành; có đến 250 đầu văn bản của QH, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, ngoài ra còn rất nhiều nghị định, thông tư của bộ và liên bộ. Tuy nhiên, cũng có nhiều văn bản chồng chéo, khó khả thi, thậm chí do nhiều văn bản chồng chéo như vậy nên trách nhiệm giữa ngành này, ngành khác cũng đùn đẩy cho nhau. Có những việc khi triển khai thực hiện ngành này lại cho rằng nhiệm vụ của ngành khác chứ không phải của ngành mình. Hoặc có những việc thực sự rất khó khả thi, ví dụ chính sách áp dụng cho ĐBSCL chẳng hạn, hỗ trợ 10 triệu đồng một hộ để mua đất cất nhà ở hay cho vay không lãi 10 triệu đồng, tổng số là 20 triệu đồng để mua đất sản xuất nông nghiệp, ví dụ trồng lúa là 0,25ha, đất sản xuất nuôi tôm thì 0,5ha, bởi vì là hộ nghèo mà hỗ trợ như thế thì họ không thể mua được đất.

Đối với những văn bản chồng chéo ở lĩnh vực này tôi kiến nghị QH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan chức năng có liên quan phải thường xuyên tổng rà soát những bất cập chồng chéo trong các loại văn bản; sớm có văn bản pháp luật thống nhất về đầu tư công trên cơ sở pháp lý để quản lý và thực hiện cho được đầu tư công, đặc biệt là đầu tư công trong nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

Về kết quả thực hiện, tôi thấy rằng nguồn vốn tập trung cho đầu tư chưa thực sự được xem xét, quyết định công bằng ở lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Trong thực tế nông nghiệp, nông dân, nông thôn ai cũng biết là họ rất khó khăn và chịu đựng quá nhiều trong suốt thời kỳ cách mạng nhưng đầu tư cũng chưa được nhiều, ví dụ trong 5 năm thì đầu tư cho giống, đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn mới đáp ứng được khoảng 55 - 60%. Về đê biển, trong quá trình đầu tư tập trung đầu tư cho những đê biển trọng điểm, trọng yếu, vùng có dân cư sinh sống hoặc vùng kinh tế trọng điểm. Trong 5 năm qua đã đầu tư được 325km đê biển và đang triển khai 439km trong tổng số chương trình là 1.694/3.200km bờ biển nhưng cũng có những địa phương, có những nơi mặc dù nằm trong chương trình nhưng chưa được đầu tư một cách thỏa đáng. Ví dụ, ngoài lập dự án từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang, toàn bộ huyện Ngọc Hiển và một phần của huyện Năm Căn bỏ ngoài đê biển mà dân cư sống ở đây là trên 85.000 dân và hơn 74.000ha. Như vậy đê biển cắt huyện Ngọc Hiển một con sông bề rộng là 500m hay đê biển Đông của Cà Mau có chiều dài hơn 76km nhưng đến thời điểm này chưa được đầu tư một mét đê nào mà dân cư ở đây mùa mưa đến, mùa nước lên sạt lở rất lớn, thậm chí sạt lở của khu dân cư, xói lở ở các vùng rừng, rừng phòng hộ... Vấn đề này cũng rất cần và phải xem xét lại. Báo cáo tổng thể cũng thể hiện rõ đầu tư chưa được toàn diện và tổng thể. Đối với huyện Ngọc Hiển tôi đề nghị cần phải sớm đầu tư khoanh lại thành bao đê riêng...

Minh Vân lược ghi
Quay trở lại đầu trang