Cập nhật 16:04 | 21/11/2019 (GMT+7)
.

Đổi mới là yêu cầu khách quan, tự thân của QH, là đòi hỏi của cuộc sống, nguyện vọng của cử tri

17:08 | 04/06/2012
Thảo luận về Đề án tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của QH, các ý kiến đều khẳng định, việc tiếp tục đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của QH là yêu cầu khách quan, yêu cầu tự thân của QH, đồng thời cũng là đòi hỏi của cuộc sống, nguyện vọng của cử tri.

ĐBQH Thích Chơn Thiện (Thừa Thiên Huế): Các hoạt động đang đi vào ổn định và phát triển rất triển vọng

Qua Nghị quyết về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, chúng tôi xin phát biểu một số ý kiến nhỏ.

Thứ nhất, qua hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia từ nhiều khóa, đặc biệt từ Khóa XII, QH Khóa XIII đã rút ra được nhiều kinh nghiệm thực tế, quý giá để tiếp tục đổi mới nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của QH. Vì thế Nghị quyết về một số cải tiến, đổi mới có một giá trị thực tế nhất định trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động QH như hoạt động lập pháp, hoạt động giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng, tổ chức các kỳ họp QH, tổ chức phiên họp của UBTVQH, hoạt động tiếp xúc cử tri của các ĐBQH và công tác bảo đảm phục vụ hoạt động. Có thể nói rằng, các hoạt động đang đi vào ổn định và phát triển rất triển vọng. Ở đây chúng tôi chỉ xin đóng góp một số ý kiến vào phần giám sát, tiếp xúc cử tri và lập pháp của nghị quyết.

Về giám sát, ngoài 4 điểm được ghi trong Nghị quyết, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của QH còn cần thực hiện công tác giám sát các công trình trọng điểm của quốc gia, bao gồm cả các cuộc di dân, tái định cư ở vùng đất mới là những nơi mà QH đã định, quyết định thông qua các khoản chi lớn trên 30 nghìn tỷ đồng, còn thực hiện công tác giám sát các doanh nghiệp lớn của Nhà nước là những nơi đã và đang sử dụng nguồn vốn rất lớn của Nhà nước, đã và đang bộc lộ dấu hiệu tiêu cực mà cử tri trong nước đang rất muốn biết sự thật làm ăn của các doanh nghiệp ấy.

Về công tác tiếp xúc cử tri. Ngoài nội dung tiếp xúc được ghi trong Nghị quyết, các ĐBQH là đại biểu nhân dân của toàn tỉnh, toàn thành phố lớn, chưa đề cập đến vai trò đại biểu nhân dân trong cả nước, các đại biểu cần luân phiên tiếp xúc với cử tri tại nhiều điểm trong toàn tỉnh, toàn thành phố để vừa trực tiếp nắm rõ những nguyện vọng của nhân dân, vừa trình diện với nhân dân trước và sau mỗi kỳ họp để giới thiệu chương trình của kỳ họp và kết quả của kỳ họp. Với sự nhấn mạnh các nội dung cũng như vấn đề nổi bật, các đại biểu còn luân phiên tiếp xúc cử tri hàng tháng tại các địa điểm và thời gian định trước để vừa trao đổi, vừa giúp dân giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, trong các kỳ tiếp xúc luôn có mặt các đại diện của chính quyền, HĐND và Mặt trận Tổ quốc tại địa phương để cùng nhau giải quyết các vấn đề khúc mắc với dân, đấy là các cuộc tiếp xúc có thể thực hiện và cần thực hiện.

Về công tác lập pháp, tiến trình làm luật, coi Nghị quyết là một tiến trình chặt chẽ, ít nhất là tối ưu trong các bước đi làm luật từ trước tới nay. Tuy nhiên, chất lượng của các đạo luật sẽ cao hơn, ổn định hơn, nếu bước đi dự thảo được chuẩn bị tốt hơn. Điều này đòi hỏi cơ quan soạn thảo tập hợp được nhiều nhà chuyên môn, nhiều chuyên gia làm luật và kỹ thuật viên văn bản tốt hơn với các bước đi theo tiến trình của nghị quyết thì chỉ cần một kỳ họp là các dự luật có thể được thông qua, công việc của các đại biểu tại hội trường sẽ nhẹ hơn và sẽ thông qua được nhiều dự luật hơn trong mỗi kỳ họp. Công việc soạn thảo mỗi dự luật sẽ mang tính chuyên môn cao hơn, chúng tôi nghĩ rằng sau vài lần thử nghiệm tiến trình làm luật này sẽ đem lại hiệu quả cao hơn và dễ được QH chấp nhận hơn.
 
ĐBQH Lê Thị Nga (Thái Nguyên): Bỏ phiếu tín nhiệm đã được ghi nhận tại Hiến pháp và pháp luật hiện hành nhưng hơn 10 năm qua, quy định này chưa một lần được thực hiện…
 
Vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm đã được ghi nhận tại Hiến pháp và pháp luật hiện hành nhưng hơn 10 năm qua, quy định này chưa một lần được thực hiện, trong khi quy định về lấy phiếu tín nhiệm đối với 4 chức danh chủ chốt cấp xã đã làm tương đối nề nếp. Tôi phân tích nguyên nhân và giải pháp để quy định này được thực hiện trên thực tế nhằm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 và đáp ứng yêu cầu chính đáng của cử tri.

Về nguyên nhân, tuy pháp luật hiện hành quy định là bỏ phiếu tín nhiệm nhưng thực chất đây là bỏ phiếu bất tín nhiệm. Quy định hiện hành bất cập trên các mặt sau: một, pháp luật hiện hành chưa quy định dựa vào tiêu chí nào để ĐBQH đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm một chức danh. Điều này đồng nghĩa với việc chức danh bị kiến nghị bỏ phiếu cũng không biết theo pháp luật khi nào và vì sao mình bị kiến nghị bỏ phiếu. Vì không quy định tiêu chí cụ thể, rõ ràng nên cùng một sự kiện xảy ra đại biểu này thấy cần phải đề nghị bỏ phiếu nhưng đại biểu khác lại thấy không cần, và rất khó thu thập kiến nghị của đại biểu vào cùng một thời điểm. Mặt khác, người bị kiến nghị bỏ phiếu sẽ khó tâm phục, khẩu phục vì dễ cho rằng người kiến nghị đã dựa trên đánh giá chủ quan. Việc quy định cụ thể các tiêu chí này còn có ý nghĩa giúp cho người thuộc diện có thể bị bỏ phiếu biết được giới hạn cần phải phấn đấu trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình để tránh việc bị bỏ phiếu. Hai, về căn cứ phải có ít nhất 20% đại biểu, khoảng 100 người đề nghị là rất khó xảy ra vì hiếm khi cùng một thời điểm có tới 100 đại biểu cùng kiến nghị trùng hợp. Pháp luật hiện hành cũng không cho phép một đại biểu nào đứng ra vận động các đại biểu khác làm việc này. Tương tự như vậy đối với quy định UBTVQH tự đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm mà không xuất phát từ kết quả giám sát. Tại Điều 12 Luật Tổ chức Quốc hội thì luật cũng chưa quy định dựa trên những tiêu chí nào để UBTVQH tự mình đề nghị. Ba, về căn cứ qua giám sát của UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của QH phát hiện người đó có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc không thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ gây thiệt hại nghiêm trọng. Để chứng minh được vi phạm này của một vị bộ trưởng hay trưởng ngành trở lên thì phương thức và bộ máy giám sát hiện hành của QH khó có thể kết luận được. Ngay cả trong trường hợp có thiệt hại nghiêm trọng thì cũng không dễ gì quy được trách nhiệm cá nhân nhất là trong tình hình hiện nay khi các quyết định quan trọng đều mang danh đã xin ý kiến ban cán sự, ý kiến tập thể trước khi cá nhân quyết định.

Thứ hai, quy trình hiện hành thiếu quy định về người đứng ra tổ chức thu thập kiến nghị của đại biểu, đáng lưu ý là trong trường hợp Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của QH hoặc ĐBQH đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm thì phải qua UBTVQH xem xét quyết định (Điều 21, Điều 50 Luật Tổ chức Quốc hội). Trong khi căn cứ để cơ quan này trình QH, đặc biệt là căn cứ để UBTVQH từ chối không trình QH đã không được quy định rõ. Như vậy, thì kể cả các quy định trước đó có tính khả thi thì về mặt lý thuyết cũng có thể bị quy định này vô hiệu hóa.

Thứ ba, một vấn đề rất quan trọng mang tính nguyên tắc là trong điều kiện Đảng ta thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú ra ứng cử các chức danh lãnh đạo bộ máy nhà nước. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ các chức danh này đều được các tổ chức có thẩm quyền của Đảng theo dõi, quản lý chặt chẽ. Rõ ràng ý kiến của các tổ chức có thẩm quyền của Đảng đối với vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm là rất quan trọng, nếu không xây dựng những văn bản rõ ràng về quy trình phối hợp giữa Đảng đoàn Quốc hội với các cơ quan có thẩm quyền của Đảng trong vấn đề này thì quy định về bỏ phiếu tín nhiệm khó có thể thực hiện được trên thực tế.

Về giải pháp, thứ nhất chúng tôi đồng tình với việc giao UBTVQH xây dựng dự thảo quy chế về bỏ phiếu tín nhiệm, trong đó đề nghị khắc phục triệt để những bất cập đã nêu trên và lưu ý một số nội dung sau: một, xây dựng căn cứ và tiêu chí rõ ràng dựa trên mức độ hoàn thành nhiệm vụ của chức danh theo quy định của pháp luật, dựa trên việc xác định rõ ràng trách nhiệm theo pháp luật khi có sự kiện xảy ra. Căn cứ tiêu chí rõ ràng thì mới đảm bảo vừa tránh được xu hướng bỏ phiếu hình thức, bỏ phiếu cảm tính, vừa tránh được việc làm cho người đứng đầu không dám triển khai các biện pháp quản lý ngành, lĩnh vực một cách quyết liệt, nhất là những giải pháp đụng đến lợi ích của các nhóm dân cư. Đồng thời cũng tránh được xu hướng vì sợ ảnh hưởng đến số phiếu nên người đứng đầu chọn phương án an toàn, tránh đương đầu với những vấn đề nóng, bức xúc của xã hội, vì thế không bảo vệ được quyền lợi của số đông người dân. Hai, về hình thức bỏ phiếu cần tồn tại hai hình thức, bỏ phiếu tín nhiệm định kỳ và bỏ phiếu tín nhiệm bất thường khi có sự kiện về việc một chức danh có vi phạm. Bỏ phiếu tín nhiệm định kỳ sẽ giúp cho người đứng đầu năng động hơn, luôn tìm cách sáng tạo, giúp bộ máy của mình hoạt động hiệu quả hơn. Bỏ phiếu định kỳ cũng giúp tránh được mặc cảm bị bỏ phiếu vì đây là một hoạt động định kỳ được tiến hành đối với nhiều người. Việc bỏ phiếu định kỳ lần cuối còn là tài liệu khá chuẩn xác, góp phần chuẩn bị nhân sự cho khóa sau.

Về thời điểm, việc bỏ phiếu định kỳ chỉ nên bắt đầu tiến hành vào thời điểm từ cuối năm thứ hai của nhiệm kỳ khi đã có một khoảng thời gian cần thiết để đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của người đứng đầu, đặc biệt là đối với những người mới ở lĩnh vực khác chuyển đến. Để có căn cứ cho việc bỏ phiếu được chính xác trước khi QH bầu hoặc phê chuẩn người được giới thiệu cần có chương trình hành động để đại biểu vừa có căn cứ để bầu vừa có căn cứ để theo dõi người đứng đầu có thực hiện lời hứa. Đồng thời, mỗi chức danh cần có bảng tự đánh giá về việc thực hiện nhiệm vụ có nhận xét của cơ quan có thẩm quyền. Kết quả bỏ phiếu phải được công khai trước Quốc hội.

Bỏ nhiệm tín nhiệm bất thường tức là bỏ phiếu bất tín nhiệm được tiến hành khi có sự kiện xảy ra liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ của chức danh khiến cho dư luận cử tri bức xúc. Qua kết quả giám sát, kết quả chất vấn để thực hiện tốt hình thức này, sau mỗi cuộc giám sát, cuộc chất vấn cần có Nghị quyết trong đó làm rõ trách nhiệm, giao nhiệm vụ cụ thể để khắc phục những sai sót làm căn cứ cho việc bỏ phiếu.

Ba, về pham vi đối tượng bỏ phiếu, do số lượng các chức danh do QH bầu hoặc phê chuẩn rất lớn, vì vậy, căn cứ vào thẩm quyền các chức danh và theo thông lệ quốc tế, các đối tượng cần bỏ phiếu chỉ nên là các chức danh từ Bộ trưởng và tương đương trở lên, các chức danh từ tương đương Thứ trưởng trở xuống nên giao cho UBTVQH  tổ chức lấy ý kiến của QH.

Bốn, về hệ quả pháp lý, kết quả bỏ phiếu có thể là các chức danh được tín nhiệm cao hoặc thấp, việc công khai về số phiếu tín nhiệm cao đã là hình thức khen thưởng xứng đáng đối với người đứng đầu, nếu phiếu không quá bán phải trình QH xem xét miễn nhiệm, bãi nhiệm, phê chuẩn việc cách chức.

Về sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền của Đảng, trong điều kiện Đảng ta thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ rất cần thiết phải có quy chế phối hợp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư với Đảng đoàn Quốc hội về bỏ phiếu tín nhiệm. Những văn bản quy định cụ thể, rõ ràng về quy trình, thủ tục phối hợp giữa Đảng đoàn Quốc hội và các tổ chức có thẩm quyền của Đảng trong việc bỏ phiếu tín nhiệm sẽ vừa thực hiện được việc Đảng lãnh đạo công tác cán bộ theo đúng nguyên tắc và điều liệu Đảng, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho QH thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo luật định.
 
ĐBQH Trần Minh Diệu (Quảng Bình): Cần phải thực hiện quyền bình đẳng của đại biểu trong thảo luận
 
Thứ nhất, về hoạt động lập pháp, qua nghiên cứu tôi thấy một trong những biện pháp được xem là đổi mới mà Đề án lần này đề cập đó là cơ quan thẩm tra phải dành thời gian phối hợp từ đầu với cơ quan soạn thảo để trao đổi, xử lý và thu hẹp các vấn đề có ý kiến khác nhau. Tôi đồng tình với yêu cầu là phải có sự phối hợp nhưng vấn đề đặt ra là phối hợp như thế nào mới là vấn đề quan trọng. Phối hợp thế nào để mỗi cơ quan không mất đi sự độc lập tương đối của mình, sự độc lập và khách quan cần thiết cho quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật. Phối hợp thế nào để cơ quan thẩm tra không can thiệp quá cụ thể vào tư duy thiết chế của cơ quan soạn thảo, không làm triệt tiêu động lực tích cực của cơ quan soạn thảo. Nếu phối hợp ngay từ đầu với mọi công đoạn của quá trình soạn thảo theo nghĩa cùng làm với nhau thì ưu điểm là dễ dàng xử lý và thu hẹp các vấn đề có ý kiến khác nhau, dễ đi đến thống nhất giữa cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra. Tuy nhiên, sự thống nhất như vậy không phải là mong muốn của QH và cũng chưa phải là thước đo chất lượng của một dự án luật khi trình ra QH. Theo tôi, điều mà QH, các ĐBQH cần hơn rất nhiều đó là những báo cáo thẩm tra độc lập có tính phản biện cao, có phân tích khoa học và nêu được các quan điểm khác nhau, các vấn đề cần bàn thảo, tranh luận và tự tranh luận để đi đến thống nhất, đó mới là sự thống nhất mà QH cần vươn tới. Từ những phân tích trên, tôi đề nghị QH cần nghiên cứu để có một cơ chế phối hợp hợp lý giữa cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra trong từng giai đoạn khác nhau của quá trình xây dựng luật. Mỗi giai đoạn có một mức độ khác nhau, trong đó theo tôi giai đoạn chủ yếu cần tập trung phối hợp thật tốt là giai đoạn mà cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra đều phải có trách nhiệm cùng giúp UBTVQH tiếp thu, giải trình, chỉnh sửa và hoàn thiện dự án luật để trình ra QH thông qua.

Vấn đề thứ hai là việc tổng hợp ý kiến thảo luận của ĐBQH, theo quy định của pháp luật QH làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số. Vì thế việc tổng hợp các thông tin liên quan đến chính kiến của từng ĐBQH là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, vì vậy tôi đề nghị cần nghiên cứu để đổi mới việc tổng hợp ý kiến của đại biểu theo hướng khách quan, khoa học. Từ thực tế của các kỳ họp, trong một số trường hợp tôi chưa đồng tình với cách tổng hợp mà thư ký kỳ họp đang làm, ví dụ báo cáo tổng hợp thường viết dưới dạng có một ý kiến về vấn đề này, có ba ý kiến về vấn đề kia... Chúng ta biết rằng những thông tin như thế chưa thể phản ánh đầy đủ và khách quan về một vấn đề gì cả nhưng lại có tính định lượng rất lớn đối với đại biểu, dẫn đến dễ bị hiểu nhầm. Trong thực tế, có những trường hợp nhiều ý kiến phát biểu chưa phải là đại diện cho đa số nhưng chỉ một ý kiến phát biểu lại có thể nhận được sự đồng tình của đa số ĐBQH. Vì thế muốn có số liệu để khẳng định nhiều hay ít, đa số hay thiểu số thì phải lấy ý kiến của tất cả các đại biểu và chỉ khi nào các đại biểu đều được thể hiện chính kiến thì mới có số liệu tổng hợp là đa số hay thiểu số trong QH. Do vậy, tôi đề nghị không phải lúc nào có quan điểm trái ngược nhau cũng phải lấy ý kiến của ĐBQH vì rất khó, hơn nữa hầu hết các trường hợp, UBTVQH đều có thể làm rõ để giải trình được. Tuy nhiên, với những vấn đề có ý kiến khác nhau mà ý kiến nào cũng có lý thì cần phải cân nhắc để xin ý kiến của ĐBQH.

Vấn đề thứ ba là điều hành các phiên họp của QH tại Hội trường. Tôi cơ bản đồng tình về phương pháp tổ chức và cách điều hành Chủ tọa kỳ họp. Có thể nói cách điều hành vừa qua của Chủ tọa kỳ họp đã góp phần quan trọng quyết định sự thành công của kỳ họp, được ĐBQH và nhân dân đồng tình cao. Tôi xin góp ý thêm một vấn đề liên quan đến việc điều hành các nội dung thảo luận tại Hội trường đó là phải đảm bảo sự bình đẳng trong quá trình tham gia phát biểu của các đại biểu theo thứ tự đăng ký trên máy điện tử. Việc ưu tiên cho lãnh đạo quản lý thuộc cơ quan soạn thảo phát biểu ý kiến cần phải được đưa vào chương trình và được giành thời gian hợp lý. Còn việc tranh thủ ý kiến của một số đại biểu được gọi là chuyên gia, nhà khoa học thì phải tổ chức lấy ý kiến tại các hội nghị hội thảo khác. Theo tôi, tại diễn đàn kỳ họp trong điều kiện có thể cần phát huy tối đa quyền và vai trò đại diện bình đẳng của một đại biểu trước QH, trước cử tri cả nước và cử tri nơi bầu ra đại biểu. Trên thực tế nếu được nghe ý kiến của các nhà quản lý, các nhà khoa học là điều rất cần nhưng nghe ở đâu và lúc nào, còn ở phiên thảo luận của QH để bàn những vấn đề quan trọng, liên quan đến đời sống dân sinh cho phạm vi cả nước thì việc được nghe ý kiến của các đại biểu đại diện cho mọi vùng miền, mọi thành phần trong xã hội là hết sức cần thiết.

Trong lĩnh vực này, theo tôi khó để xác định được đại biểu nào phát biểu chất lượng hơn đại biểu nào khi QH chưa nghe được ý kiến của họ. Vì vậy, cần phải thực hiện quyền bình đẳng của đại biểu trong thảo luận. Đây là băn khoăn của nhiều đại biểu cũng như băn khoăn của đông đảo cử tri muốn đề đạt với QH, mong được tiếp thu và điều chỉnh ở những kỳ họp sau.

ĐBQH Trần Thị Hoa Sinh (Lạng Sơn): Đánh giá cụ thể, sâu sắc hơn những tồn tại trong các nhiệm kỳ vừa qua
 
Tôi đồng tình với việc cần đánh giá cụ thể, sâu sắc hơn những tồn tại trong những nhiệm kỳ vừa qua, cụ thể là 3 nội dung lớn thuộc chức năng, nhiệm vụ của QH đó là hoạt động lập pháp; hoạt động giám sát và hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Về hoạt động lập pháp, tôi thấy đặc biệt quan tâm công tác thông qua các dự án luật và pháp lệnh. Một là về soạn thảo, trong những nhiệm kỳ qua, cơ quan soạn thảo có nhiều bộ ngành chức năng được giao nhiệm vụ này làm rất tốt. Tuy nhiên, cũng không ít các bộ, ngành và cơ quan soạn thảo làm chưa tốt. Chính vì vậy, ngay từ đầu chúng ta phải quan tâm đến công tác này và tôi đồng tình ủng hộ trong Đề án có đề cập là cơ quan chủ trì thẩm tra dành thời gian phối hợp ngay từ đầu với cơ quan soạn thảo để trao đổi xử lý các vấn đề thuộc nội dung của dự án. Đây là một vấn đề đổi mới cần phải làm rõ hơn về quy trình để cơ quan thẩm tra được tham gia từ đầu. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra không tham gia vào Ban soạn thảo nhưng được mời dự các cuộc họp để nghe được, nắm được những nội dung và xử lý những vấn đề cần được xử lý ngay từ đầu. Khi đến giai đoạn thẩm tra cơ bản đã nắm được các nội dung trong dự án đó sẽ rất thuận, nhưng cần quy định cụ thể hơn thì quá trình thực hiện mới tốt được. Vấn đề thứ hai, trong xây dựng lập pháp là thẩm tra các dự án. Đây là vấn đề hết sức quan trọng. Bởi vì khi đưa ra trình các kỳ họp của QH thì báo cáo thẩm tra là báo cáo cuối cùng và bản tiếp thu, giải trình ý kiến là quyết định, sau đó biểu quyết thông qua. Tôi đồng tình với báo cáo tiếp thu, giải trình là có nhiều báo cáo về thẩm tra trong thời gian qua làm chưa tốt. Có những báo cáo thẩm tra khi trình QH thì làm cho ĐBQH không biết theo hướng nào. Cho nên tôi đề nghị phải nâng cao chất lượng báo cáo thẩm tra. Để nâng cao được chất lượng báo cáo thẩm tra thì phải nâng cao chất lượng của đại biểu chuyên trách, đặc biệt là các đại biểu chuyên trách ở Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của QH.

Về hoạt động giám sát, trong thời gian qua, nhiệm kỳ qua làm rất tốt, đặc biệt nhiệm kỳ Khóa XII đã chọn những chuyên đề giám sát rất sát thực, được cử tri đồng tình ủng hộ. Nhưng có một vấn đề đó là hậu giám sát. Nhân đây tôi cũng đề cập đến vấn đề chất vấn, trả lời chất vấn. Giải quyết của hậu chất vấn làm chưa tốt. Giải quyết của hậu giám sát làm chưa tốt. Như vậy, QH giám sát sau đó đưa ra một báo cáo giám sát và ban hành nghị quyết. Nhưng nghị quyết đó sau một thời gian thực hiện như thế nào thì QH lại chưa đeo bám, chưa quan tâm lắm. Chính vì vậy, có nhiều kiến nghị chưa được giải quyết kịp thời, cho nên cử tri có ý kiến đề nghị QH giám sát rồi, có kiến nghị rồi nhưng không được tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết đó, do vậy cử tri vẫn còn băn khoăn về vấn đề này. Vì vậy, tôi thấy cần phải có những quy định trong Đề án rõ hơn, quy trình rõ hơn, trách nhiệm rõ hơn về giải quyết hậu giám sát và hậu kiến nghị.

Vấn đề thứ ba về tiếp xúc cử tri. Đây là một trong những nội dung hết sức quan trọng. Có thể nói, thông qua ĐBQH để cử tri phản ánh những tâm tư, nguyện vọng của mình. Vậy thì làm thế nào để ĐBQH đến gần với cử tri là một vấn đề phải suy nghĩ. Tổng kết trong thời gian qua trong Đề án cũng trình bày nhưng hiện nay vẫn có một cái gì đó hơi có khoảng cách giữa các đại biểu với cử tri. Chúng ta đã có một đề án đổi mới về tiếp xúc cử tri nhưng mở rộng ra, không chỉ tiếp xúc cử tri ở nơi bầu ra mình, có thể trên địa bàn của cả tỉnh đó, tỉnh Lạng Sơn cũng đã làm như vậy, hiệu quả rất cao. Nội dung nữa, trong tiếp xúc cử tri là tiếp xúc với những thành phần và đối tượng, hiện nay có câu chuyện là cử tri chuyên nghiệp, chúng ta phải khắc phục. Tôi mong muốn trong Đề án cần cụ thể và rõ hơn cách thực hiện.

Ý nữa rất quan trọng là giải quyết các ý kiến kiến nghị của cử tri. Trong thời gian gần đây, đặc biệt Khóa XII, các bộ, ngành quan tâm giải quyết các ý kiến kiến nghị của cử tri được các Đoàn ĐBQH gửi đến UBVQH, sau đó được trả lời. Tuy nhiên, những câu trả lời đó, các giải quyết đó còn hết sức chung chung, chưa vào cụ thể, chưa giải quyết những vấn đề vướng mắc, chủ yếu là giải quyết các văn bản quy định của pháp luật, có những lời hứa xem xét trong thời gian tới nhưng thực tế rất chậm.

Về các hoạt động khác để thực hiện 3 nội dung trên đó là các bộ máy giúp việc và các chế độ. Việc kiện toàn bộ máy tham mưu giúp việc là Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND cần tổng kết và có một bộ máy mô hình phù hợp hơn. Văn phòng phải trực thuộc Văn phòng Quốc hội.

ĐBQH Vũ Trọng Kim (Quảng Ngãi): Hành lang vận động của UBTVQH rất rộng…
 
Nội dung Đề án bao gồm 7 vấn đề, cơ bản tôi tán thành. Nhưng vấn đề cần thiết nhất ở đây là phải đi sâu vào trọng tâm, không dàn trải. Vì vậy cần lược bớt những nội dung đã quy định, giãn thủ tục hành chính và giảm giấy tờ rườm rà. Quan điểm của tôi là cần trao quyền cho các chủ thể như Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban, các Đoàn ĐBQH để có các nội dung, phương thức cụ thể thực hiện một cách chủ động, sáng tạo, linh hoạt, thay đổi theo từng vấn đề, từng thời gian phù hợp. Đặc biệt, vai trò chủ thể của UBTVQH theo Điều 11 Luật Tổ chức Quốc hội thì hành lang vận động của UBTVQH rất rộng, không phải nhất thiết cái gì UBTVQH cũng chờ QH cho phép, cái gì cũng ghi vào Đề án vô hình trung tự mình trói buộc chân tay mình. Qua phản ánh của cử tri trong quá trình đổi mới phát triển, cử tri và nhân dân rất tán thành và hoan nghênh UBTVQH có những phiên họp hàng tháng, các Ủy ban của QH vừa qua đã tiến hành các phiên chất vấn và giải trình, được truyền hình trực tiếp, thông tin rộng rãi nên được nhân dân và cử tri rất quan tâm và ủng hộ.

Theo quan điểm của tôi, tăng cường dân chủ là không ngừng tăng cường mở rộng môi trường thông tin. Vì vậy, vận dụng Điều 15, QH cần có cơ chế người phát ngôn. Người phát ngôn của QH phát đi những thông tin cần thiết, phù hợp với chức năng của QH, đặc biệt là những chức năng của QH, thông tin từ UBTVQH hoặc người đứng đầu của QH trước những sự kiện mà cử tri và nhân dân quan tâm. Tôi thiết nghĩ, phát ngôn của QH có thể làm yên lòng hàng triệu người trước sự cố thiên tai, bão lũ, hỏa hoạn, tai nạn nghiêm trọng bất ngờ hoặc có thể là sự chỉ đạo, sự hướng dẫn thực thi nghiêm pháp luật với tư cách là cơ quan giám sát tối cao nhằm tăng cường pháp chế ở một địa chỉ cụ thể nào đó.

Về vấn đề trọng tâm của Đề án, tôi đề nghị cần đi sâu hơn, làm rõ hơn vấn đề tập trung đổi mới là nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của QH. Phần này cần bàn kỹ, viết kỹ hơn, cần làm nhiều hơn bởi đây là trách nhiệm giám sát của QH, là yêu cầu bức thiết của xã hội chúng ta hiện nay. Nếu giám sát tối cao của QH thực sự chất lượng chừng nào thì sẽ có ý nghĩa đến đời sống của nhân dân chừng đó. Bởi lẽ chỉ khi nào đạt được yêu cầu nâng cao pháp chế xã hội chủ nghĩa thì khi đó mới mạnh dạn nói rằng quá trình lập pháp hữu hiệu. Do đó, nếu giám sát tối cao của QH có chất lượng thực sự thì các quyết định của QH mới có ý nghĩa thực tiễn, điều mà cử tri và nhân dân đang rất mong đợi.

Giám sát tối cao có phạm vi rất rộng, có nhiều việc lớn nhưng không ít việc nhỏ cũng không kém phần quan trọng, cá biệt có ý nghĩa sống còn đối với người dân, không được bỏ qua. Khi tổ chức công việc giám sát thì phải có kết quả phát hiện, cái tốt, cái xấu, cái đúng, cái sai. Đổi mới chính là phải định lượng, không chỉ định tính, nếu "cưỡi ngựa xem hoa" thì kết thúc giám sát chỉ đưa ra được những lời khuyến nghị, kiến nghị chung chung, sau đó có sửa chữa, có điều chỉnh hay không cũng không ai biết được. Vì vậy, hiệu quả pháp lý sau giám sát phải được các chế tài bảo đảm thực thi, như vậy mới chứng tỏ được rằng Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Giám sát phải gắn bó chặt chẽ với quá trình kiểm toán hay nói cách khác kiểm toán phải là công cụ đắc lực cho việc nâng cao hiệu quả giám sát.

Đề án không nêu ra được việc phối hợp với các cơ quan ngoài QH như kiểm tra Đảng, Thanh tra Chính phủ hay giám sát xã hội của MTTQ, các đoàn thể nhân dân thì biện pháp "đơn thương độc mã" là sự lãng phí công của, trí tuệ mà lẽ ra chúng ta phải tận dụng thu nạp năng lượng này. Giám sát chỉ được chấp nhận với tư cách là chủ thể, là tập thể, chưa quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn cho cá nhân ĐBQH hoặc một nhóm ĐBQH. Đó là một điểm quan trọng đã ghi trong Điều 52, Điều 53 nhưng thực hiện rất khó khăn, nhất là giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, thậm chí có tình cảnh diễn ra là các đối tác rất vô cảm, thậm chí coi thường ĐBQH. Tôi thiết nghĩ nếu không bắt đầu từ sự đổi mới mạnh mẽ của từng ĐBQH thì làm sao có QH mạnh được, cũng như trong một đơn vị chiến đấu mà không có người hô xung phong thì cả đơn vị mãi mãi là đơn vị phục kích.

Giám sát cán bộ, công chức có chức danh do QH bầu hoặc phê chuẩn bằng cách bỏ phiếu tín nhiệm có thể 1 năm 1 lần. Tôi đề xuất phương án 2 năm 1 lần tức là bỏ phiếu vào năm thứ 2 và năm thứ tư trong nhiệm kỳ, đối tượng là từ cấp Bộ trưởng hoặc tương đương trở lên. Nhiệm kỳ này cũng nên làm trong phạm vi hẹp như vậy. Nhiệm kỳ sau nghiên cứu rút kinh nghiệm để có thể mở rộng ra ở các đối tượng khác.

Minh Vân lược ghi
Quay trở lại đầu trang