Cập nhật 12:59 | 14/11/2019 (GMT+7)
.

Cùng một nhóm đối tượng nhưng có nhiều luật điều chỉnh sẽ gây phức tạp cho công tác quản lý

13:02 | 01/06/2012
Thảo luận về dự thảo Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) một số vấn đề còn ý kiến khác nhau là phạm vi điều chỉnh của luật; quy hoạch tài nguyên nước; bảo vệ tài nguyên nước và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước…

ĐBQH Trần Thị Dung (Điện Biên): Nên mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật
 
Khoản 1, Điều 1 về phạm vi điều chỉnh dự thảo Luật quy định nước biển và nước dưới đất thuộc vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này. Theo tôi nên mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật đối với cả nước biển, nước dưới đất thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Trong trường hợp giữ như Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý của UBTVQH thì vùng nước ngoài lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia ven biển nên được điều chỉnh cơ bản theo pháp luật quốc tế. Vậy, tôi đề nghị viết lại phần giải thích từ ngữ về nước dưới đất: bổ sung giải thích nước biển trong luật này phù hợp với phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật, quy định như trong dự thảo luật sẽ rất khó hiểu và khó thực hiện thống nhất.

Điều 2 giải thích từ ngữ, Khoản 1 giải thích tài nguyên nước bao gồm: nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo tôi giải thích từ ngữ như vậy chưa đúng với việc cần phải giải thích từ ngữ đó là tài nguyên nước là gì chứ không phải tài nguyên nước bao gồm những gì?

Điều 8, các hành vi bị nghiêm cấm tại Khoản 1 "đổ chất thải, rác thải, đổ hoặc làm rò rỉ chất độc hại vào nguồn nước và các hành vi gây ô nhiễm môi trường" thì bản chất của cụm từ này đổ chất thải, rác thải, đổ hoặc làm rò rỉ các chất độc hại vào nguồn nước cũng chính là hành vi gây ô nhiễm môi trường. Nếu quy định như thế này sẽ chồng chéo hành vi gây ô nhiễm môi trường lên hành vi bị nghiêm cấm. Khoản 4, "khai thác khoáng sản trong hành lang bảo vệ sông gây sạt lở bờ sông..." ở đây không chỉ có bờ sông mà còn có suối, kênh, rạch, vì vậy, cần bổ sung thêm.

Điều 15 quy hoạch tài nguyên nước, đề nghị bỏ Mục a, Khoản 1 quy hoạch tài nguyên nước chung của cả nước. Bởi vì quy hoạch tài nguyên nước quốc gia là điều không thực tế, vô cùng tốn kém và không cần thiết, chỉ nên quy hoạch tỉnh, vùng, tức là khu vực cho phù hợp...
 
ĐBQH Lê Minh Hiền (Khánh Hòa): Giải thích từ ngữ chưa đầy đủ và thiếu sự đồng bộ, nhất quán
 
Về phạm vi điều chỉnh tại Điều 1, nếu theo Khoản 2 của dự thảo thì nước biển và nước dưới đất thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, nước nóng, nước khoáng thiên nhiên được điều chỉnh bằng pháp luật khác. Thực tế, hoạt động tài nguyên nước hiện nay, nếu tài nguyên nước không điều chỉnh nước biển ven bờ thì các hoạt động xả nước thải vào nguồn nước biển ven bờ, khai thác, sử dụng nước biển vào các mục đích phục vụ KT - XH hiện nay lại có thêm pháp luật khác điều chỉnh. Như vậy cùng nhóm đối tượng nhưng có nhiều luật điều chỉnh sẽ gây phức tạp cho công tác quản lý. Mặt khác, nước nóng, nước khoáng thiên nhiên cũng đều là nước dưới đất chỉ khác nhau về thành phần, tính chất và một số hợp chất có hoạt tính sinh học đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật của Việt Nam hoặc tiêu chuẩn nước ngoài được phép ứng dụng tại Việt Nam. Do vậy, nước khoáng, nước thiên nhiên nên được điều chỉnh bằng Luật Tài nguyên nước để thống nhất quản lý về tài nguyên nói chung. Do đó, tôi đề xuất phương án về phạm vi điều chỉnh như sau: Luật này quy định về quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng chống, khắc phục hậu quả, tác hại do nước gây ra trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam. Nước biển, trừ nước biển ven bờ và nước dưới đất thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa được điều chỉnh bằng pháp luật khác.

Về giải thích từ ngữ tại Điều 2, theo tôi giải thích từ ngữ trong dự thảo luật chưa đầy đủ và thiếu sự đồng bộ, nhất quán. Cụ thể phạm vi điều chỉnh của luật đã quy định nước biển được điều chỉnh bằng pháp luật khác nhưng tại Khoản 1 Điều 2 lại giải thích tài nguyên nước quy định trong luật này bao gồm cả nước biển. Ngoài ra tôi cũng đề nghị giải thích bổ sung thêm một số khái niệm được nêu trong luật như hệ sinh thái thủy sinh, khả năng nguồn nước, nguồn sinh thủy, hồ chứa, dung tích chết của hồ chứa, chuyển nước để nội dung của luật được hiểu một cách đầy đủ rõ ràng và thống nhất.
 
ĐBQH Hoàng Thị Tố Nga (Nam Định): Bổ sung vai trò giám sát của cộng đồng và các bên liên quan trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước
 
Chúng ta đều đã biết tài nguyên nước có tầm quan trọng như thế nào đối với sự sống. Tuy nhiên, do Luật Tài nguyên nước hiện hành chưa thể hiện rõ được việc quản lý sử dụng tổng hợp tài nguyên nước, chưa có đủ các quy định nghiêm khắc nhằm xử lý các hành vi xâm hại tài nguyên nước, bắt buộc khắc phục hậu quả do vi phạm tài nguyên nước gây ra nên thời gian qua có rất nhiều vi phạm mà không được xử lý kịp thời. Chính vì thế tôi nhất trí với phạm vi điều chỉnh chủ yếu của dự án luật là phòng, chống khắc phục hậu quả tác hại của nước gây ra có liên quan trực tiếp tới vận hành hồ chứa, các công trình nhập mặn, việc thăm dò khai thác dưới đất.

Đối với tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, tôi tán thành với quy định thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước như trong dự thảo Luật và giải trình, tiếp thu của UBTVQH. Còn đối với sản xuất nông nghiệp là một ngành gặp rất nhiều rủi ro và lợi nhuận thấp, tôi đề nghị có những chính sách miễn phí và quy định bằng văn bản dưới luật.

Điều 6 về lấy ý kiến của cộng đồng các bên liên quan trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước, tôi đề nghị nên bổ sung vai trò giám sát của cộng đồng và các bên liên quan trong quá trình thực hiện dự án. Vì tại Điều 71 đã đề cập đến vấn đề giám sát nhưng đó là trách nhiệm của cơ quan quản lý, nếu phát huy được vai trò giám sát của chính người dân sở tại sẽ làm tăng thêm trách nhiệm bảo vệ nguồn nước và lòng tin của dân vào các dự án. Cũng tại Điều 6, tôi đề nghị bổ sung thêm lấy ý kiến của các nhà khoa học, tổ chức khoa học công nghệ, tổ chức xã hội nghề nghiệp liên quan, vì các tổ chức này trực tiếp làm việc tại cộng đồng sẽ am hiểu cộng đồng hơn, họ có chuyên môn khoa học về quản lý tài nguyên nước và các lĩnh vực liên quan…
 
ĐBQH Hoàng Thanh Tùng (Sóc Trăng): Xem xét lại thẩm quyền phê duyệt quy hoạch tài nguyên nước của UBND cấp tỉnh
 
Về phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, Báo cáo giải trình đã nêu tác hại do nước gây ra rất đa dạng, phức tạp do nhiều nguyên nhân khác nhau, có nguyên nhân do con người, có nguyên nhân do thiên tai và đã được điều chỉnh trong nhiều văn bản khác nhau như Luật Đê điều, Pháp lệnh Phòng, chống lụt bão, Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, Luật Bảo vệ môi trường, tới đây là Luật Phòng, chống và giảm nhẹ tác hại của thiên tai. Để phân định phạm vi điều chỉnh của luật này với các luật kể trên, tôi tán thành với quan điểm tiếp thu của UBTVQH là luật này chỉ tập trung quy định về phòng, chống và khắc phục hậu quả do nước gây ra có liên quan trực tiếp đến hoạt động của con người như việc vận hành các hồ chứa, các công trình ngăn mặn, việc khai thác nước dưới lòng đất... Tuy nhiên, với quan điểm tiếp thu như vậy thì việc thể hiện nội dung này trong Khoản 1, Điều 1 của dự thảo lại chưa sát vẫn quá rộng bao trùm toàn bộ việc phòng chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra nói chung. Do đó, tôi đề nghị quy định rõ hơn vấn đề này, có thể là đưa toàn bộ nội dung của Điều 58 hiện nay lên thành Khoản 3 của Điều 1 để loại trừ khỏi phạm vi điều chỉnh của luật này các tác hại thiên tai do nước gây ra.

Về thẩm quyền phê duyệt quy hoạch tài nguyên nước của UBND cấp tỉnh tôi đề nghị xem xét lại. Dự thảo của Chính phủ trình QH quy định UBND cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch tài nguyên nước sau khi được Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định và có ý kiến của ĐBQH về vấn đề này thì thấy rằng như vậy không đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính. Tuy nhiên, khi tiếp thu lại chuyển từ trách nhiệm thẩm định sang chấp thuận có nghĩa là vai trò của Bộ Tài nguyên và Môi trường còn cao hơn. Như vậy càng không đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và hơn nữa không rõ trách nhiệm. Quy hoạch tài nguyên nước do UBND cấp tỉnh phê duyệt nhưng sau khi được Bộ chấp thuận nếu có vấn đề gì thì không hiểu trách nhiệm của ai? Trách nhiệm của “ông” chấp thuận hay trách nhiệm của “ông” phê duyệt? Do đó để thực hiện vấn đề này một cách triệt để, tôi đề nghị chỉ quy định UBND cấp tỉnh phê duyệt sau khi đã hoàn lại các thủ tục lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương có liên quan, Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ thực hiện thẩm quyền hậu kiểm…

Đối với tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước quy định tại Điều 64 tôi đồng ý quy định trong những trường hợp nhất định thì tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nước phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước với những lập luận đã nêu trong báo cáo của UBTVQH. Thực tiễn hiện nay trong nhiều luật đã quy định thu tiền cấp quyền khai thác, sử dụng tài nguyên như tiền sử dụng đất, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, phí sử dụng tần số vô tuyến điện, phí quyền hoạt động viễn thông… Tuy nhiên, về lâu dài tôi đề nghị Chính phủ phải nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của khoản thu này là gì? Là thuế, là phí hay lệ phí để có quy định và quản lý thống nhất. Liên quan đến vấn đề này, Khoản 4 Điều 42 dự thảo Luật quy định tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nước thuộc trường hợp phải nội tiền cấp quyền khai thác, được chuyển nhượng quyền khai thác. Tôi đề nghị cần quy định cụ thể hơn vấn đề này…
 
ĐBQH Nguyễn Hữu Hùng (Tiền Giang): Cân nhắc thẩm quyền phê duyệt và thông qua giữa UBND tỉnh và HĐND cấp tỉnh
 
Quy định về quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng đối với hai vùng nước chưa quy định rõ, nhất là những nội dung có tính riêng biệt như yêu cầu bảo vệ nguồn nước biển trong phạm vi không gian rộng, yêu cầu quản lý thống nhất đối với hai nguồn nước này, trách nhiệm quản lý tài nguyên nước, vấn đề thanh tra chuyên ngành. Tôi nghĩ trong dự thảo Luật có thể chưa dự liệu được hết nhưng chí ít cũng phải đưa vào một số nội dung để quy định đối với hai vùng nước này cùng với các quy định chung trong toàn bộ dự án luật.

Tôi đề nghị cần đưa nước nội thủy, nước lãnh hải vào danh mục nguồn nước quy định tại Khoản 3, Điều 7, bổ sung vào Khoản 1, Điều 15 dự thảo Luật quy định các loại quy hoạch tài nguyên nước là quy hoạch tài nguyên nước nội thủy lãnh hải, bổ sung vào dự thảo Luật tại các Điều 69, 70 về trách nhiệm quản lý tài nguyên nước, thanh tra kiểm soát việc quản lý, sử dụng tài nguyên nước đối với hai vùng nước này. Về mặt kỹ thuật, tôi thấy nên thay cụm từ "trên lãnh thổ" bằng cụm từ "trong phạm vi lãnh thổ" có lẽ hợp lý hơn.

Đối với lập quy hoạch tài nguyên nước, tôi tán thành với những quy định như dự thảo, tán thành với quy định khi phê duyệt thông qua quy hoạch phải có văn bản chấp thuận của Bộ Tài nguyên và Môi trường đáp ứng yêu cầu quản lý ngành thống nhất và đề cao trách nhiệm của quản lý ngành. Tuy nhiên, trong vấn đề này tôi đề nghị cân nhắc thẩm quyền phê duyệt và thông qua giữa UBND tỉnh và HĐND cấp tỉnh làm sao cho phù hợp với quy định tại Luật Tổ chức HĐND và UBND. Cũng tại điều này, đề nghị xác định rõ vai trò của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, của Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước trong việc thẩm định quy hoạch tài nguyên nước chung cho cả nước trước khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
 
ĐBQH Nguyễn Lâm Thành (Lạng Sơn): Việc lưu thông dòng chảy có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại của nguồn nước
 
Liên quan đến Chương III về bảo vệ tài nguyên nước ở Điều 29, việc lưu thông của dòng chảy có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại của nguồn nước, nhất là các con sông, con suối. Thực tế vừa qua, nhiều nơi, nhất là khu vực miền núi, việc san lấp mặt bằng các khu vực dân cư, các công trình giao thông đã không tính đến các yếu tố kỹ thuật san lấp, thu hẹp và làm biến dạng nhiều dòng chảy sông, suối. Bên cạnh đó là việc khai thác khoáng sản ở các lòng sông cũng làm thay đổi ghê gớm hiện trạng của các con sông. Cho nên tôi đề nghị bổ sung vào Điều 29 là hạng mục san, lấp mặt bằng thi công các công trình và khai thác khoáng sản lòng sông vào danh mục các hoạt động được quy định không được cản trở dòng chảy.

Tại Điều 31, liên quan đến việc quy định, bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt. Tại Khoản 2 quy định UBND cấp tỉnh xác định vùng bảo hộ vệ sinh của khu vực lấy nước sinh hoạt trong phạm vi địa phương theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Theo tôi, quy định này không có tính khả thi vì trên thực tế có rất nhiều nguồn nước sinh hoạt với các cấp độ và quy mô khác nhau và mức độ phục vụ khác nhau, vì có những nguồn nước lớn thì cung cấp cho cả thị xã, thành phố, có những nguồn nước chỉ cung cấp cho các cộng đồng dân cư nhỏ. Do vậy, tôi đề nghị giao thẩm quyền cho UBND các cấp và thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Tại Điều 37 liên quan đến quyền và nghĩa vụ tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép xả nước vào nguồn nước. Tôi đề nghị bỏ Điểm a và Điểm b tại Khoản 1 với các lý do. Đối với Điểm a, việc xin giấy phép và cấp giấy phép đương nhiên là để xả nước thải vào nguồn nước nên không cần ghi là được xả thải vào nguồn nước theo quy định của giấy phép. Hơn nữa, tại Điểm a, Khoản 2 của điều này liên quan đến nghĩa vụ đã ghi, chấp hành quy định của pháp luật về tài nguyên nước và thực hiện đúng nội dung của giấy phép. Đối với Khoản b ghi đã được nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật cũng không cần thiết vì đã được cụ thể hóa từ Khoản c đến Khoản h trong điều này.
 
ĐBQH Trần Xuân Vinh (Quảng Nam): An toàn các hồ chứa, đập nước cần đặc biệt coi trọng

 
Việc đầu tư xây dựng các công trình thủy điện trong thời gian qua cho thấy đời sống của nhân dân phải di dời đến nơi ở mới gặp nhiều khó khăn hơn nơi ở cũ do không còn đất để sản xuất, đất tốt đã ngập trong lòng hồ. Hạ tầng xuống cấp nhưng không có điều kiện để sửa chữa, khắc phục, là nơi thường dễ bị tác động bởi bất lợi như sạt nở núi, đường giao thông bị ách tắc. Về không gian, văn hóa sinh tồn ngày càng bị thu hẹp. Không chỉ nhân dân vùng dự án mà người dân vùng hạ du cũng gặp rất nhiều khó khăn, nhất là tình trạng nhiễm mặn, thiếu nước sinh hoạt. Vấn đề đặt ra là việc phân chia lợi ích hợp lý giữa chủ đầu tư tới các dự án thủy điện. Tuy nhiên, tại Khoản 3, Điều 46 của dự thảo luật lại quy định "tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nguồn nước cho thủy điện là hỗ trợ kinh phí cho địa phương và người dân nơi có hồ chứa theo quy định pháp luật". Theo tôi quy định như vậy không phù hợp. Quy định hỗ trợ không thể thực hiện hoặc không thực hiện mà đây là trách nhiệm của các nhà chủ đầu tư cần được quy định cụ thể tại luật này.

Thứ hai, về phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra. Vấn đề an toàn các hồ chứa, đập nước cần đặc biệt coi trọng gắn liền với trách nhiệm của các chủ đầu tư. Tuy nhiên, nội dung này quy định tại Chương V về việc phòng, chống khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra chưa nêu cụ thể mà còn ở dạng chung chung. Thực tế nhiều nơi cho thấy sự cố vỡ đập đã hủy hoại tài sản, con người rất lớn và khôn lường, không thua gì sóng thần, động đất, "nhất thủy nhì hỏa". Do vậy, Luật Tài nguyên nước cần nêu rõ hơn, cụ thể hơn trách nhiệm xử lý các đập nước xảy ra sự cố có thể làm vỡ đập hoặc làm giảm tuổi thọ của các công trình. Đồng thời quy định rõ trách nhiệm của các chủ đầu tư, các chủ thể có liên quan trong việc khắc phục, bồi thường thiệt hại do sự cố xả lũ không theo quy định, không theo đúng quy trình, hoặc điều tiết nước vào mùa khô không đúng quy định gây nhiễm mặn cho vùng hạ du, làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân và các doanh nghiệp, các tổ chức ở vùng hạ lưu.

Việc điều hòa, phân phối nguồn tài nguyên nước là hoàn toàn hợp lý và cần thiết. Tuy nhiên, việc chuyển nước lưu vực sông ở Điều 54 cần phải được nghiên cứu thấu đáo và kỹ càng hơn. Bởi vì nguy hại từ việc chuyển dòng đối với môi trường là rất khó tránh khỏi, nhất là việc chuyển dòng vì mục đích kinh tế, vì mục đích thủy điện gây “chết” các dòng sông. Thực tế trên địa bàn các tỉnh, đặc biệt tỉnh Quảng Nam nhiều dòng sông đã bị khai tử. Do đó đề nghị, chỉ xem xét cho chuyển nước lưu vực sông với ưu tiên vì mục tiêu môi trường, xã hội và lợi ích của cộng đồng...

Minh Vân lược ghi
Quay trở lại đầu trang