Cập nhật 14:48 | 21/11/2019 (GMT+7)
.

Tăng mức tiền phạt không phải là biện pháp duy nhất để hạn chế vi phạm hành chính

09:57 | 31/05/2012
Thảo luận về dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính, nhiều ý kiến cho rằng, việc tăng mức phạt tiền tối đa cần cân nhắc kỹ để vừa bảo đảm tính răn đe vừa phù hợp với điều kiện phát triển KT - XH và thu nhập của người dân. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, việc nâng mức phạt tiền không phải là biện pháp hữu hiệu duy nhất để hạn chế vi phạm mà cần chú trọng áp dụng đồng bộ các hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả hoặc bồi thường toàn bộ thiệt hại do vi phạm gây ra…

ĐBQH Touneh Drong Minh Thắm (Lâm Đồng): Quy định thống nhất trong luật về những tình tiết giảm nhẹ
 
Theo tôi cần nghiên cứu quy định thống nhất trong luật về những tình tiết giảm nhẹ để thuận tiện cho việc áp dụng, không nên giao cho Chính phủ quy định những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trong các quy định về xử phạt vi phạm hành chính như dự thảo. Theo đó có thể bổ sung thêm một số tình tiết giảm nhẹ nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa như vi phạm trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, vi phạm lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người vi phạm tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện xử lý hành vi vi phạm hành chính.

Đối với quy định mức phạt tiền cao hơn nhưng không quá 2 lần mức phạt chung tại Khoản 3 Điều 23, tôi đồng tình với việc giao cho HĐND thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức phạt tiền cụ thể đối với các hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quy định tại khoản này.

Điểm b Khoản 12 Điều 24 về mức phạt tiền tối đa trong các trường hợp, mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Điều 24 đề nghị cần nghiên cứu lại quy định đối với lĩnh vực thuế mức phạt tối đa là 200 triệu đồng tại Điểm b Khoản 12 Điều 24 của dự thảo Luật cho thống nhất với Luật Quản lý thuế. Bởi lẽ Luật Quản lý thuế quy định một số trường hợp không giới hạn mức tối đa của khung tiền phạt như đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế ở Điều 108 thì mức tiền phạt là từ 1 đến 3 lần so với số thuế trốn, gian lận. Đối với hành vi khai thuế nghĩa vụ thiếu hoặc khai tăng số thuế được miễn giảm hoặc được hoàn không thu Điều 107 thì mức phạt tiền là 10% số tiền thuế khai thuế được miễn giảm hoàn không thu. Đối với hành vi chậm nộp tiền thuế Điều 106 thì mức phạt tiền là 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế nộp chậm. Đối với hành vi không thực hiện trích, chuyển toàn bộ hoặc một phần tương ứng số tiền phải nộp từ tài khoản của tổ chức, cá nhân bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về thuế và ngân sách Nhà nước Điều 114 thì bị phạt tiền tương ứng so với số tiền không trích, chuyển. Do đó đề nghị dự thảo cần quy định trường hợp ngoại lệ không giới hạn mức phạt tiền tối đa trong các trường hợp trên…
 
ĐBQH Vũ Xuân Trường (Nam Định): Chỉ nên quy định trình tự, thẩm quyền, khung xử phạt
 
Tôi nhất trí với dự thảo Luật về phạm vi điều chỉnh của Luật Xử lý vi phạm hành chính bao gồm cả 2 lĩnh vực hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý vi phạm hành chính vì đây là luật khung mang tính chất điều chỉnh các mối quan hệ, các nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự thủ tục trách nhiệm của các chủ thể trong xử lý vi phạm hành chính bao gồm cả các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý khác. Luật chỉ nên quy định trình tự, thẩm quyền, khung xử phạt, còn các nội dung xử phạt cụ thể, hành vi bị xử phạt nên được điều chỉnh trong các nghị định của Chính phủ ở từng lĩnh vực.

Về thẩm quyền quyết định các biện phát xử lý hành chính, Khoản 2, Điều 105 dự thảo quy định: "Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính gồm quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh", tôi nhận thấy đây là vấn đề hoàn toàn mới. Quy định như vậy sẽ dẫn tới những bất cập và những xung đột pháp luật trong một số quan hệ pháp luật đã ban hành bởi thứ nhất, 3 biện pháp xử lý trên đều là quyết định hành chính, do đó thuộc thẩm quyền của các cơ quan hành chính, việc giao cho các cơ quan xét xử, cơ quan tòa án, cơ quan tư pháp để quyết định có hợp lý không? Thứ hai, tại Điều 12 của Luật Khiếu nại, tố cáo cũng như Luật tố tụng Hành chính và Điều 15, Khoản 1 dự thảo Luật này cũng quy định: "Cá nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính". Như vậy, nếu người bị xử lý vi phạm hành chính không đồng ý với quyết định xử lý vi phạm hành chính do Tòa án quyết định thì sẽ khởi kiện ai, khởi kiện với cơ quan nào, cơ quan nào phải thụ lý để giải quyết tiếp theo? Điểm nữa, đối tượng phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc là đối tượng nghiện hút ma túy đưa vào các cơ sở để thực chất là cai nghiện. Nhiều ý kiến muốn bỏ đối tượng này không được coi là biện pháp xử lý, nay theo dự thảo là giao cho tòa án mở một phiên tòa hoặc phiên họp để nhân danh Nhà nước xét xử đưa một đối tượng nghiện hút ma túy đi cai nghiện. Tôi thấy không cần thiết, nên giao việc này cho chính quyền cơ sở thực hiện.

Đối với việc xử lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ theo thủ tục hành chính, Khoản 1, Điều 126  quy định đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý và người sử dụng hợp pháp. Còn những trường hợp người chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp có lỗi trong trường hợp để người khác sử dụng tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì sẽ bị tịch thu. Theo tôi quy định như vậy cũng chưa thật đầy đủ, chưa thật cụ thể dẫn tới sẽ bị lạm dụng trong thực hiện, nhất là đối với các trường hợp mà người sử dụng, người điều khiển phương tiện, nhất là phương tiện vận tải không thực hiện đúng mục đích sử dụng, không thực hiện đúng nội dung đã giao ước với chủ phương tiện hoặc lạm dụng phương tiện để chở thêm, chở kết hợp những hàng hóa, sản phẩm dẫn tới bị vi phạm hành chính. Chủ sở hữu không có lỗi trong việc giao phương tiện cho người điều khiển để dẫn tới vi phạm hành chính thì không bị tịch thu phương tiện mà phải được trả lại cho chủ sở hữu thì mới phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự về quyền tài sản. Vì vậy, theo tôi Khoản 1 Điều 126 cần bổ sung như sau: đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép, sử dụng trái mục đích của chủ sở hữu, tức là bổ sung ý là sử dụng trái mục đích của chủ sở hữu, người quản lý thì được trả lại cho người sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp.
 
ĐBQH Đặng Thị Kim Chi (Phú Yên): Cùng với việc xử phạt nặng cần phải áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác
 
Tôi đồng ý mức tối thiểu là 50.000 đồng, nhưng phải giảm mức tối thiểu đối với cá nhân như các ý kiến khác đã phân tích. Về mức tối đa, tôi thống nhất đối với cá nhân nên giảm nhưng đối với tập thể, tổ chức thì nên theo tỷ lệ % giá trị mà tổ chức đã gây thiệt hại. Bởi vì có một số hành vi vi phạm rất nặng như thải nước thải, chất độc hoặc vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường… mức xử phạt 2 tỷ vẫn là quá nhẹ.

Mặt khác, tôi nghĩ mục đích của xử phạt hành chính nhằm răn đe và ngăn ngừa vi phạm, cho nên đề nghị cùng với việc xử phạt nặng còn phải áp dụng những biện pháp xử lý hành chính khác. Ví dụ khi chở quá tải hành khách thì cùng với việc phạt phải trả lại số tiền cho hành khách; hoặc nếu chở quá tải thì cũng nên dỡ hàng hóa xuống như vậy mức răn đe mới cao.

Về quy định mức phạt tiền cao hơn nhưng tối đa không quá 2 lần mức phạt chung được áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông, môi trường..., đối với các thành phố trực thuộc Trung ương, tôi cho rằng quy định này dẫn đến sự không thống nhất trong việc áp dụng chế tài xử phạt hành chính trên phạm vi toàn quốc và cũng không phù hợp với Hiến pháp, trái với nguyên tắc là mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. UBTVQH có lý giải là quy định mức phạt tiền cao hơn là xuất phát từ đặc thù của nội đô các thành phố thuộc Trung ương, do mật độ dân số dày hoặc quy mô dân số cao... như vậy có thể phạt cao hơn và nếu lý giải như vậy thì cũng có thể lý giải ngược lại là ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa mật độ dân số thấp thì xử phạt chỉ bằng một nửa mức phạt chung.

Ở đoạn cuối Khoản 3 Điều 23 có ghi là căn cứ vào mức phạt chung, đặc thù yêu cầu quản lý KT - XH của địa phương, HĐND thành phố trực thuộc Trung ương sẽ quy định mức tiền cụ thể đối với các hành vi vi phạm hành chính. Nếu như vậy, mức phạt do HĐND thành phố quy định sẽ cao hơn mức phạt của luật do QH thông qua là không hợp lý. Do đó, tôi đề nghị không đưa Khoản 3 Điều 23 vào luật.

ĐBQH Nguyễn Văn Hiến (Bà Rịa - Vũng Tàu): Nâng mức tiền phạt không phải là biện pháp duy nhất để hạn chế vi phạm
 
Tôi đồng ý mức phạt tiền đối với cá nhân là từ 50.000 đến 1 tỷ đồng và mức phạt đối với tổ chức tối đa là 2 tỷ đồng. Việc nâng tiền phạt không phải là biện pháp duy nhất để hạn chế vi phạm, nhưng rất quan trọng và rất có ý nghĩa, nhất là trong thực tế hiện nay. Đây không chỉ là xử lý người vi phạm mà còn có tác dụng răn đe và phòng ngừa rất lớn. Thực tế cho thấy mức phạt tiền hiện hành đã lạc hậu, dân kêu, người thi hành công vụ cũng kêu rằng chỉ có thẩm quyền như thế, chỉ được xử phạt như thế thôi, cho nên vi phạm hành chính ngày càng xảy ra nhiều, ngày càng nghiêm trọng, càng ngang nhiên. Tình trạng này ở tất cả các lĩnh vực giao thông, xây dựng, đô thị, môi trường, lâm sản... Cho nên, việc nâng mức phạt là cần thiết, tuy nhiên, đối với mức phạt tiền tối thiểu đối với tổ chức, mức khởi điểm là 100.000 đồng là quá thấp trong điều kiện hiện nay, nó không có tác dụng răn đe đối với một tổ chức.

Vấn thứ hai là vấn đề liên quan đến việc áp dụng luật, mối quan hệ giữa dự thảo Luật này và các luật khác có liên quan, tôi tiếp cận vấn đề này ở một khía cạnh khác. Giải trình của UBTVQH về nguyên tắc áp dụng luật, theo Điều 83 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì áp dụng luật có hiệu lực sau. Tôi đồng ý như thế. Nhưng có một số luật ban hành trước đang có hiệu lực và có quy định về xử lý vi phạm hành chính như Luật Quản lý thuế, Luật Đo lường mới thông qua năm ngoái. Các luật này có quy định rất khác về mức phạt, về thời hiệu so với dự thảo đang xem xét. Ví dụ trong lĩnh vực thuế dự thảo chỉ quy định mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực thủ tục thuế, còn theo Luật Quản lý thuế thì còn có các vi phạm khác nữa mà lĩnh vực thủ tục thuế chỉ dự kiến là phạt 200 triệu đồng đối với thẩm quyền của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế. Như thế có nghĩa các nội dung của quy định xử phạt khác về thuế thì phải theo Luật Quản lý thuế và như vậy, trên thực tế sẽ phải xử phạt cao hơn mức trần 2 tỷ quy định trong dự thảo Luật này. Vì thế, để rõ ràng, minh bạch và để thống nhấp áp dụng cần có quy định dẫn chiếu áp dụng pháp luật như Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính trước đây và như trong Tờ trình của Chính phủ đã trình ra QH…

ĐBQH Phạm Thị Thu Hồng (Bình Định): Mức phạt tiền tối thiểu đối với tổ chức vi phạm quá thấp
 
Tôi đồng ý với mức tiền phạt tối thiểu như dự thảo Luật là 50 nghìn đồng đối với cá nhân. Theo giải trình của UBTVQH, đây là mức phạt tiền được áp dụng chung cho tất cả mọi đối tượng, mọi vùng, miền ở mức độ vi phạm nhỏ ít nghiêm trọng có tính chất đơn giản. Do đó nếu tăng mức phạt cao hơn sẽ không phù hợp vì không phải bất kỳ hành vi vi phạm hành chính nào cũng phải áp dụng chế tài nặng để răn đe người vi phạm nhất là đối với những đối tượng là người lao động có thu nhập thấp, đồng bào dân tộc thiểu số.

Mức phạt tiền tối thiểu 100 ngàn đồng đối với tổ chức, tôi cho rằng quá thấp. Mọi so sánh đều là khập khiễng nhưng rõ ràng hành vi vi phạm hành chính của tổ chức sẽ cao hơn so với cá nhân. Do đó, tôi đề nghị tăng mức phạt tiền tối thiểu đối với tổ chức.

Về mức phạt tiền tối đa thì tôi tán thành quy định như trong dự thảo Luật để bảo đảm tính răn đe nhất là đối với những người có thu nhập cao, tổ chức, doanh nghiệp cố tình vi phạm họ bất chấp pháp luật sẵn sàng chịu nộp phạt để đạt được mục đích cao hơn.

Về quy định mức phạt tiền cao hơn nhưng tối đa không quá 2 lần mức phạt tiền chung được áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông, môi trường, quản lý đô thị, tại khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại Khoản 3 Điều 23 dự thảo Luật, tôi đồng ý, tuy nhiên đề nghị song song với việc xử phạt, cần thực hiện đồng bộ với các giải pháp khác về KT - XH; tăng cường tuyên truyền giáo dục pháp luật để công dân chấp hành tốt, nhất là tăng cường áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả hoặc bồi thường toàn bộ thiệt hại do vi phạm gây ra vì theo tôi tăng mức phạt tiền chưa phải là biện pháp hữu hiệu duy nhất để hạn chế tình trạng vi phạm đã và đag xảy ra như hiện nay. 
 
ĐBQH Trần Văn Lan (Tiền Giang): Về lâu về dài, QH nên xem xét ban hành Bộ luật Xử lý vi phạm hành chính

 
Tôi thống nhất với phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật bao gồm xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp xử lý hành chính. Dự thảo Luật được xây dựng trên cơ sở Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính theo quy định của xử lý vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp hành chính. Mặt khác, giữa phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tuy có một số khác nhau nhưng vẫn có một điểm chung. Nguyên tắc xử lý vi phạm tình tiết tăng nặng, tình tiết chuyển nhẹ, các hành vi bị nghiêm cấm, trách nhiệm của các cơ quan tổ chức cá nhân. Tuy nhiên để bảo đảm tính khả thi và tính pháp lý của việc thực hiện các biện pháp xử lý hành chính phù hợp với thực tiễn cuộc sống, tạo sự đồng bộ thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật để xử lý vi phạm hành chính, về lâu về dài, đề nghị QH xem xét ban hành Bộ luật Xử lý vi phạm hành chính.

Việc giao cho tòa án thẩm quyền xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo thủ tục tư pháp là phù hợp với chủ trương về cải cách tư pháp, cải cách bộ máy nhà nước trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên tôi thấy rằng, việc thực hiện chủ trương này thì phải có lộ trình phù hợp. Với điều kiện về khả năng thực hiện của các ngành tòa án, trước mắt nên giao cho toàn án nhân dân quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đó là đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở chữa bệnh, đưa vào cơ sở giáo dục. Còn biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn tiếp tục giao cho Chủ tịch UBND cấp xã, phường, thị trấn quyết định.

Về phạt tiền đối với vi phạm hành chính quy định tại Điều 23, 24, tôi cho rằng quy định của dự thảo Luật chưa bảo đảm thống nhất, đồng bộ với Bộ luật Hình sự và các nội dung có liên quan. Vấn đề thứ nhất, so sánh mức phạt tiền theo quy định của Bộ luật Hình sự và dự thảo Luật, hiện nay quy định mức phạt tiền trong Bộ luật Hình sự nhìn chung còn thấp so với mức xử phạt vi phạm hành chính. Trong dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính mức phạt tiền tối đa như trong dự thảo nêu là 2 tỷ đồng là quá cao, có thể phát sinh tiêu cực giữa người vi phạm và người thi hành công vụ. Vấn đề thứ hai, về quy định mức phạt tiền cao, mức tối thiểu là gấp 5 lần, mức tối đa gấp 4 lần, theo tôi mức phạt tiền cao không phải là một giải pháp duy nhất để hạn chế vi phạm và điều quan trọng là cần phải phối hợp các hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả. Vừa rồi Bộ luật Hình sự quy định mức phạt thấp cũng theo nguyên tắc này. Tôi cho rằng, việc tăng mức phạt tiền cần thiết, nhưng phải cân nhắc mức tăng cho phù hợp, đồng bộ với Bộ luật Hình sự để vừa bảo đảm tính răn đe và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm hành chính, nhưng đồng thời cũng phải phù hợp với điều kiện KT - XH và thu nhập bình quân của người dân. Vấn đề thứ ba, quy định về mức phạt tiền cao hơn, nhưng tối đa không quá 2 lần mức phạt tiền chung được áp dụng đối với hành vi trong lĩnh vực giao thông, môi trường, quản lý đô thị của thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại Khoản 3, Điều 23, tôi chưa thống nhất với quy định này. Vì pháp luật xử lý vi phạm hành chính cũng như pháp luật quy định về các lĩnh vực khác đều phải xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp và pháp luật. Đó là phải mang tính công bằng, tính bình đẳng và áp dụng chung đối với mọi người, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật về hình sự cũng phải tuân thủ theo quy định này. Nếu xét về điều kiện KT - XH giữa các địa phương, các vùng, các miền của các khu vực khác nhau có những trường hợp chênh lệch rất lớn. Vì vậy, nếu dự thảo Luật chỉ quy định áp dụng ngoại lệ đối với khu vực nội thành, các thành phố trực thuộc Trung ương và chỉ trong các lĩnh vực giao thông, môi trường, quản lý đô thị là chưa phù hợp.

Mặt khác như đã nói ở trên, để quản lý và phòng ngừa vi phạm không chỉ dựa vào xử phạt hành chính mà cần phải dựa vào những biện pháp, giải pháp mang tính đồng bộ và toàn diện. Do đó mục đích răn đe, phòng ngừa vi phạm giao thông, môi trường đô thị, khu vực nội thành của thành phố lớn phải quy định mức xử phạt vi phạm trên cao hơn ở địa phương.

Minh Vân lược ghi
Quay trở lại đầu trang