Cập nhật 14:30 | 17/08/2019 (GMT+7)
.

Về việc sử dụng công cụ giám sát tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội

07:28 | 27/02/2011
Giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước là một trong ba chức năng quan trọng của QH. Trong đó, chất vấn là một phương thức thực hiện quyền giám sát của QH. Chất vấn thể hiện cụ thể, trực tiếp quyền giám sát tối cao của QH; là một cuộc tranh luận chung ở QH mà tất cả các ĐBQH đều có quyền tham gia.

Chất vấn là công cụ giám sát mạnh nhất

Chất vấn được coi là một trong các công cụ giám sát mạnh nhất của QH và ĐBQH vì kết thúc chất vấn, QH phải thể hiện rõ thái độ của mình trước vấn đề, đối tượng được chất vấn và đặc biệt là làm rõ trách nhiệm chính trị của người được chất vấn. Trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý là hai loại trách nhiệm khác nhau. Trách nhiệm pháp lý là sự gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi của chủ thể vi phạm pháp luật hoặc có liên quan đến việc gây ra hậu quả xấu vì những nguyên nhân được pháp luật quy định. Trách nhiệm chính trị là trách nhiệm về chính sách, không phải trách nhiệm về hành vi. Hoạt động chất vấn vì vậy sẽ lạc đề nếu tập trung vào các vụ việc cụ thể mà không làm rõ được các vấn đề ở tầm chính sách.

Về bản chất nguyên thủy, chất vấn phải là quyền của QH, chứ không phải của một cơ quan nào đó của QH, vì QH chính là cơ quan duy nhất có quyền bầu ra những người được chất vấn. Là cơ quan bầu ra những người được chất vấn, QH mới có quyền “truy cứu” trách nhiệm chính trị của họ. Tuy nhiên, QH là một tập thể đông đảo người đại diện, việc thể hiện ý kiến của tập thể thành lời và văn bản để chất vấn không phải là công việc đơn giản, nhất là khi mỗi ĐBQH có cách tiếp cận, đánh giá, nhìn nhận sự việc khác nhau; hơn nữa, không phải ai cũng xuất sắc trong việc thể hiện ý kiến của mình trong quá trình chất vấn, nên quyền chất vấn của tập thể QH được trao cho các ĐBQH - các thành phần nhỏ nhất tạo nên QH để phát huy tối đa trí tuệ của các ĐBQH trong quá trình chất vấn. Việc trao quyền chất vấn cho ĐBQH là hợp lý. Thực tiễn pháp luật các nước và pháp luật Việt Nam cũng đã thừa nhận điều này. Qua các giai đoạn khác nhau, bốn bản Hiến pháp của chúng ta đều khẳng định một nguyên tắc cơ bản là: quyền chất vấn chỉ thuộc về ĐBQH (QH).

Các Ủy ban chuyên môn có thể cung cấp nguồn tư liệu phong phú, tin cậy để ĐBQH chất vấn thành công

Có thể nói HĐDT, các UB - các cơ quan chuyên môn của QH, được tổ chức theo các lĩnh vực cần thực hiện các chức năng tương ứng của QH phải là cơ sở hạ tầng của QH. Chuyên môn hóa là đặc điểm lớn nhất của UB. Chuyên môn hóa thể hiện ở chỗ, mỗi UB chuyên sâu về một lĩnh vực. Các UB được tổ chức theo các lĩnh vực chuyên môn; trong đó, nhiệm vụ quan trọng là thẩm tra các dự án luật; các báo cáo và thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định. Với tính chất là cơ quan chuyên môn, các UB sẽ cung cấp cho các ĐBQH kiến thức chuyên sâu, các kỹ năng và cơ cấu tổ chức cần thiết để xử lý những vấn đề phức tạp; cũng có thể là một diễn đàn bảo đảm cho sự tham gia rộng rãi nhất của các nhóm cử tri, của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu trong quy trình lập pháp; và cũng là những trung tâm hoạch định chính sách, giám sát các cơ quan hành pháp. Các hoạt động của nghị trường rất đa dạng và phức tạp, và hoạt động của các UB là phương tiện, mà nhờ đó QH có thể xem xét kỹ càng các dự án luật và nhiều vấn đề thuộc thẩm quyền của QH.

Có thể vì mang tính chất rất sâu về chuyên môn, nên có ý kiến đề nghị nên tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn tại HĐDT và các UB của QH.

Như đã khẳng định, chất vấn là một trong những hình thức giám sát thiết yếu để QH bày tỏ thái độ và áp đặt trách nhiệm chính trị lên Chính phủ. Thái độ này là thái độ của cả QH; trách nhiệm chính trị là trách nhiệm trước toàn thể QH. QH bầu ra Chính phủ, chứ không phải HĐDT hay các UB của QH. Hiện nay số lượng thành viên của HĐDT, mỗi UB của QH trung bình gần 35 người. Đa số (trên 70%) thành viên HĐDT, các UB của Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm nên thời gian và trí tuệ dành cho công việc của HĐDT, các UB của QH không nhiều. Trong khi đó, để chất vấn các quan chức cao cấp do QH bầu thì không thể chỉ vài chục ĐBQH trong HĐDT hay một UB có thể đánh giá. Về thực tiễn, thời gian qua, số lượng luật tương đối lớn được thông qua trong QH Khóa XI, XII và các chương trình giám sát đạt được kết quả nhất định - là nhờ sự hoạt động tích cực, có hiệu quả của HĐDT, các UB của QH. Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận một cách khách quan rằng, hoạt động của HĐDT, các UB ở nước ta còn có những bất cập. Trong Đề án “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH”, Ban chỉ đạo xây dựng Đề án đã chỉ ra rằng: năng lực giám sát của các cơ quan của QH so với yêu cầu, nhiệm vụ còn hạn chế.

Có thể ý tưởng về việc chất vấn và trả lời chất vấn tại các Ủy ban của QH xuất phát từ một trong các nguyên nhân là: chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH có lúc còn  hình thức; một số ĐBQH chất vấn còn mang tính chất hỏi để biết. Nhiều ý kiến cho rằng trong một số trường hợp, ĐBQH không có chuyên môn sâu về một lĩnh vực nhất định, trong khi đó, HĐDT và các UB lại là các cơ quan chuyên môn, trí tuệ, thì có thể tiến hành chất vấn thành công.

Cũng phải nhìn nhận khách quan rằng, trên thực tế, ĐBQH thực hiện quyền chất vấn của mình cũng còn khó khăn. ĐBQH ở nước ta được tổ chức theo Đoàn dựa trên cấu trúc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ở một số Khóa QH trước, có đại biểu sau những chất vấn gai góc, thẳng thắn khi về địa phương bị chấn chỉnh, nhắc nhở rằng chất vấn như vậy là ảnh hưởng đến địa phương. Cơ chế để ĐBQH thực hiện việc giám sát, hậu giám sát, còn khó khăn. Các cơ quan của QH có vai trò quan trọng đối với các ĐBQH. Chính các cơ quan chuyên môn của QH, thông qua hoạt động của mình có thể cung cấp nguồn tư liệu phong phú, tin cậy để ĐBQH chất vấn thành công.

Tổ chức điều trần tại HĐDT, UB của QH

 Chất vấn gắn liền với quyền giám sát của Nghị viện. Trong một Báo cáo nghiên cứu của Viện Dân chủ Quốc gia, giám sát của Nghị viện được định nghĩa: “là những hoạt động đương nhiên tiếp theo hoạt động lập pháp. Sau khi tiến hành các hoạt động lập pháp, vai trò cơ bản của cơ quan lập pháp là xem xét liệu các đạo luật đó có được thực thi hiệu quả hay không và liệu trên thực tế các đạo luật có định rõ và giải quyết được các vấn đề như dự định của các nhà soạn thảo hay không”.

Làm thế nào để HĐDT và các UB của QH phát huy vai trò của mình như là một công cụ hiệu quả trong hoạt động giám sát của QH nói chung và chất vấn của ĐBQH nói riêng, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay, khi nhiều ĐBQH cho rằng thông tin thì có nhiều, nhưng thông tin “tinh” để phục vụ cho hoạt động của đại biểu còn ít? Trong lĩnh vực này, có thể học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài về điều trần tại UB.

Theo kết quả điều tra do Liên minh Nghị viện Thế giới phối hợp với Học viện Ngân hàng Thế giới tiến hành ở 83 cơ quan lập pháp trong Nghị viện của 82 nước và Nghị viện Liên minh châu âu trong năm 2001, điều trần ở UB cũng là những công cụ phổ biến trong hoạt động giám sát của các nghị viện với tỷ lệ sử dụng trên 95% chiếm 73 nước. Điều trần đang được sử dụng khá hiệu quả ở nhiều UB của Nghị viện các nước. Đó là phương thức để thu thập được các thông tin phục vụ cho hoạt động giám sát một cách chân thực, sâu, rộng mà hiệu quả. Điều trần có thể tập trung vào những vấn đề rất lớn, như vấn đề bảo hiểm y tế, an sinh xã hội… nhưng cũng có thể tập trung cả vào những vụ việc nhỏ, cụ thể.

Những người được mời đến phiên điều trần là tất cả các bên liên quan đến vấn đề cần điều trần. Đó có thể là đại diện của Chính phủ, các bộ ngành; đại diện của các tổ chức dân sự, doanh nghiệp, hiệp hội, những người dân, báo chí. Những phiên điều trần được báo chí theo dõi, bình luận, đánh giá về điều trần, về ứng xử của các bên, tạo ra lực ép buộc các bên đều phải tuân thủ những quy tắc chung. Điều trần là phương thức thu thập thông tin hữu hiệu của UB giúp ĐBQH có cơ sở đánh giá các vấn đề cần giám sát được đưa ra thảo luận ở QH, cung cấp những chứng cứ có sức thuyết phục cho vấn đề cần giám sát, quan tâm.

Xét về câu chữ thì hiện nay pháp luật Việt Nam chưa quy định về hai từ điều trần tại UB nhưng đã có những quy định hao hao điều trần. Ví dụ, Điều 3 của Luật Hoạt động giám sát của QH quy định UB giám sát hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc thi hành luật, nghị quyết của QH, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực UB phụ trách; giúp QH, UBTVQH thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của các cơ quan này. Điều 27 và 29 của Luật này cũng khẳng định trong trường hợp cần thiết, UB của QH tổ chức phiên họp để xem xét báo cáo hoạt động của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo trình tự: người đứng đầu cơ quan có báo cáo trình bày báo cáo; đại diện cơ quan, tổ chức được mời dự phiên họp phát biểu ý kiến; UB thảo luận; Chủ tọa phiên họp kết luận.

Điều 32 quy định: UB hoặc thường trực UB tổ chức xem xét, thảo luận về báo cáo của Đoàn giám sát, trong đó: Trưởng đoàn giám sát trình bày báo cáo; đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến; UB hoặc thường trực UB thảo luận về báo cáo của Đoàn giám sát; Chủ tọa phiên họp kết luận; UB hoặc thường trực UB biểu quyết khi xét thấy cần thiết.

Điều 33 về vai trò của UB trong giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có quy định trong trường hợp cần thiết, UB có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc người khiếu nại, tố cáo đến trình bày và cung cấp thông tin, tài liệu mà UB quan tâm.

Đây là những cơ sở pháp lý mà thời gian qua, một số Ủy ban của QH đã khéo vận dụng và đã tiến hành một số phiên điều trần. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hoạt động điều trần tại các UB là một hoạt động giám sát rất thiết thực, mang tính chuyên sâu, tác động nhanh, mạnh mẽ đến hoạt động của các bộ, ngành và các chính sách liên quan… Hoạt động này có khả năng tiến hành thường xuyên, trở thành một khâu quan trọng trong toàn bộ quá trình hoạt động giám sát của HĐDT, các UB của QH… Vì vậy, cần quy định rõ cơ sở pháp lý của hoạt động này tại HĐDT, các UB của QH, quy trình, thủ tục, trách nhiệm của các cơ quan hữu quan, hậu quả pháp lý của hoạt động này.

Nguyễn Thị Hồng
Quay trở lại đầu trang