Không gian mới của điện ảnh

Bài 2: Bắt kịp xu hướng thế giới 

Xem với cỡ chữ
Sự phát triển nhanh và mạnh của công nghệ sản xuất, chiếu phim, lưu trữ trong điện ảnh trên nền tảng công nghệ số là một yếu tố mang tính cơ hội song cũng là thách thức cho mỗi nền điện ảnh dân tộc. Đó là phải đầu tư, tìm ra đường đi của mình trên nền tảng văn hóa dân tộc, cập nhật công nghệ hiện đại.

>> Bài 1: Bước đột phá về công nghệ và tư duy

Công nghệ điện ảnh Việt đang ở đâu?

Xu hướng toàn cầu hóa đã biến các thị trường điện ảnh quốc gia trở thành một bộ phận không thể tách rời của thị trường điện ảnh quốc tế, đòi hỏi nền điện ảnh các nước phải chủ động hội nhập toàn diện và tạo vị thế trên thị trường thế giới. Hội nhập về công nghệ, có thể thấy một số yêu cầu đối với nền điện ảnh hiện đại ở Việt Nam gồm: Công nghệ sản xuất; công nghệ phổ biến, phát hành phim và công nghệ trình chiếu.

Về công nghệ sản xuất phim, đến nay có khoảng 500 doanh nghiệp được cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh sản xuất phim, thực tế có khoảng 15 - 20 doanh nghiệp sản xuất phim chiếu rạp, số còn lại chủ yếu sản xuất các chương trình truyền hình, quảng cáo. Theo ThS. Nguyễn Lâm Tuấn Anh, Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, về thiết bị kỹ thuật và công nghệ, công nghệ sản xuất và chiếu phim lạc hậu, nhất là trong xu hướng thế giới đã chuyển sang công nghệ số hóa. Việt Nam đang tiến hành xây dựng trường quay Cổ Loa (Hà Nội), tuy nhiên, dự án xây dựng trường quay này đang dừng lại ở giai đoạn I với khoảng 400m2. Có trường quay nhưng thiếu hệ thống máy quay, guy, boom, ray... vốn là các thiết bị phục vụ quay phim. Trong khi đó, ở khu vực kinh tế tư nhân, hiện chúng ta có khoảng 50 trường quay, chủ yếu là quy mô nhỏ, thiếu đồng bộ, ít được đầu tư công nghệ cao, chủ yếu cung cấp dịch vụ cho các hoạt động quy mô nhỏ vừa như làm phim truyền hình, video ca nhạc... Về kỹ thuật tiền kỳ, ngoại trừ Công ty TNHH MTV Hãng phim Hoạt hình Việt Nam được đầu tư thiết bị tương đối hiện đại, đồng bộ để sản xuất, các hãng phim khác, thiết bị sản xuất cơ bản đã lạc hậu, cũ, hỏng, không đồng bộ, cần được đầu tư mới, nâng cấp. Nhiều bộ phim quay tại Việt Nam, hậu kỳ được xử lý ở Thái Lan, Hàn Quốc... để bảo đảm chất lượng kỹ thuật tốt hơn.


Hoàn thiện chính sách để điện ảnh Việt theo kịp xu hướng thế giới   
 Nguồn: ITN

Về phát hành, phổ biến phim, các cụm rạp hiện đại của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước chiếm 60%, đều tập trung ở các thành phố lớn, chi phối hoạt động chiếu phim ở Việt Nam; hệ thống rạp chiếu phim của Nhà nước xuống cấp trầm trọng, công nghệ thiết bị chiếu phim lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu chiếu phim và thưởng thức phim của khán giả, khó cạnh tranh. Hoạt động chiếu phim lưu động càng gặp khó khăn hơn, dù rằng, đây là hệ thống chiếu phân phối phim hiệu quả nhất tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa và đã được Nhà nước có những chính sách đặc biệt để hỗ trợ.

Phim nhập khẩu đang chiếm tỷ lệ áp đảo, phim giải trí - thương mại là chủ yếu, phim có tính nghệ thuật còn hạn chế... Từ năm 2007 đến nay, đã có gần 300 dự án làm phim hợp tác, cung cấp dịch vụ và làm phim có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam, tuy nhiên đa số là các dự án nhỏ có ngân sách thấp hoặc thành phần nghệ sĩ nước ngoài tham gia, hay phim tài liệu, phim ngắn…

Hoàn thiện chính sách

Điện ảnh là một lĩnh vực đòi hỏi tính quốc tế hóa cao trong ứng dụng công nghệ. Theo TS. Từ Mạnh Lương, Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Trong xu thế phát triển mạnh của khoa học - công nghệ, lĩnh vực điện ảnh đòi hỏi sự đầu tư rất lớn về kinh phí, thì Nhà nước cần hoàn thiện chính sách. Trong đó chủ yếu tạo điều kiện để doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia hoạt động điện ảnh tại Việt Nam theo đúng quy định của pháp luật: Hỗ trợ doanh nghiệp, hãng sản xuất phim ứng dụng, chuyển giao công nghệ điện ảnh; hợp tác công tư trong xây dựng các trung tâm chiếu phim hiện đại, xây dựng tác phẩm điện ảnh lớn sử dụng kỹ xảo điện ảnh; lưu trữ và phổ biến phim bằng công nghệ cao; có chính sách về thành lập quỹ phát triển điện ảnh…

ThS. Nguyễn Lâm Tuấn Anh cho rằng, để phát triển điện ảnh Việt Nam trong thời đại công nghệ 4.0, cần tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, gồm cả hạ tầng công nghệ thông tin, đặc biệt cho vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, tăng cơ hội tiếp cận và hưởng thụ văn hóa nói chung, điện ảnh nói riêng cho các vùng chậm phát triển. Tạo cơ chế khuyến khích đầu tư hợp tác nước ngoài trong lĩnh vực điện ảnh, nhằm phát triển công nghiệp điện ảnh theo kịp các nước trong khu vực.

Bên cạnh đó, cần cải thiện chế độ duyệt phim, xem xét chuyển sang chế độ hậu kiểm. Nhanh chóng xây dựng các biện pháp kịp thời quản lý phim trên internet; có hệ thống chế tài quản lý hoạt động phát hành phim qua mạng đầy đủ, phân định rõ trách nhiệm của các bên liên quan trong việc quản lý phương thức, nội dung phát hành phim qua mạng. Tăng cường hiệu quả bảo hộ quyền tác giả và bản quyền sở hữu tác phẩm điện ảnh; ngăn chặn nạn vi phạm bản quyền, thực hiện cam kết quốc tế về bản quyền. Tạo cơ sở pháp lý để nâng cao và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người làm điện ảnh, khán giả và cơ sở điện ảnh trong quá trình tham gia hoạt động điện ảnh; bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động kinh doanh điện ảnh.

Hiện tại, Việt Nam đã có một số nhà sản xuất, phát hành và phổ biến phim cập nhật được trình độ phát triển của điện ảnh thế giới, song nguồn nhân lực chất lượng cao của điện ảnh Việt Nam còn ít và không đồng bộ, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thời kỳ làm phim theo công nghệ hiện đại... Những bất cập đó đặt ra nhu cầu cấp thiết phải đổi mới quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành điện ảnh, đặc biệt là thành phần sáng tác, sản xuất phim, chuyên gia kỹ thuật điện ảnh, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao phát triển ngành công nghiệp điện ảnh.

Ngọc Phương