Thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW về thu hút đầu tư nước ngoài (FDI):

Cần chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước

16:45 | 07/09/2019
Để kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, Nghị quyết số 50/NQ/TW về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 (gọi tắt là Nghị quyết 50) đã chỉ ra giải pháp khuyến khích doanh nghiệp FDI để họ sử dụng dịch vụ doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nội địa để nâng tầm sản phẩm, đáp ứng chuỗi giá trị của doanh nghiệp FDI. Theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng, đây là giải pháp “vừa kéo vừa đẩy”.

Tránh để bị  lấn át

Tại Tọa đàm trực tuyến “Nâng cao chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam” diễn ra ngày 7.9, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho rằng, Nghị quyết 50 có tầm quan trọng đặc biệt đối với tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta trong thời kỳ mới. Ngay từ những ngày đầu mở cửa, Đảng và Nhà nước có chủ trương mời gọi FDI để tận dụng công nghệ, thị trường, đầu tư. Vốn FDI trở thành vốn quan trọng hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Nhưng sau 30 năm mở cửa, thế và lực của nước ta có nhiều thay đổi. Việt Nam có nhiều cơ hội lựa chọn doanh nghiệp và dự án phù hợp với trình độ phát triển khoa học, công nghệ nước ta hơn. Vì vậy, Nghị quyết của Bộ Chính trị đưa ra định hướng, chủ trương về thu hút FDI nhằm phát huy hết lợi thế của nguồn vốn. Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc cho rằng, Nghị quyết đã sử dụng cụm từ “hợp tác đầu tư" đã thể hiện sự bình đẳng, chủ động của chúng ta chứ không phải mời gọi đầu tư như trước.

Theo ông Lộc, Việt Nam đã trở thành quốc gia thu hút FDI thành công trong khu vực và thế giới, chỉ thua Singapore về số vốn đầu tư trên đầu dân. Tuy nhiên, chúng ta không chỉ trông chờ vào việc huy động vốn mà còn mong đợi sự lan toả công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước, nhưng cho đến nay vẫn chưa làm được bao nhiêu. Không kết nối được với doanh nghiệp trong nước mà còn bị doanh nghiệp FDI chèn lấn doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Ngoài ra, xuất hiện nhiều hiện tượng chuyển giá, vốn mỏng, gian lận thương mại… và hoạt động ngày càng tinh vi. Chính vì vậy, Nghị quyết 50 đã định hướng làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam trong đó nhấn mạnh việc thu hút và nâng cao chất lượng của đầu tư nước ngoài.

Để kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, Nghị Quyết 50 đã chỉ ra giải pháp khuyến khích doanh nghiệp FDI để họ sử dụng dịch vụ doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nội địa, để nâng tầm sản phẩm, đáp ứng chuỗi giá trị của doanh nghiệp FDI. Theo ông Thắng, đây là giải pháp vừa kéo vừa đẩy.

Ngoài ra, Nghị quyết 50 định vị lại thành phần kinh tế FDI là thành phần kinh tế Việt Nam, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác nên đã đưa ra mục tiêu khá cụ thể về FDI trong giai đoạn tới về vốn đăng ký, vốn thực hiện. Các mục tiêu này được đưa ở mức vừa phải để tránh khu vực FDI lấn át doanh nghiệp trong nước nhưng vẫn thúc đẩy kinh tế tư nhân trong nước phát triển. Tổng mức đầu tư chỉ từ 20-25% toàn xã hội, bảo đảm tính tự chủ nền kinh tế.


Ảnh minh họa

Rà soát về an ninh quốc phòng rất cần thiết

Một điểm đáng lưu ý trong Nghị quyết là đã nhấn mạnh đến vấn đề an ninh quốc phòng. Ông Thắng cho rằng, việc tạm dừng hay chấm dứt dự án có nguy cơ ảnh hướng đến đến an ninh quốc phòng, môi trường, từ trước đến nay được quy định tại Luật Đầu tư. Do thời gian gần đây, tình hình an ninh ngày một phức tạp, cho nên việc cần có cơ chế rà soát trước khi cấp giấy chứng nhận đầu tư là rất cần thiết, trong đó, cần đảm bảo dự án đáp ứng yêu cầu về an ninh quốc gia, về môi trường, an ninh trật tự, không gây ảnh hưởng tới văn hóa của Việt Nam. “Khi pháp luật đầu tư ngày càng thông thoáng, dẫn tới hiện tượng người nước ngoài núp bóng người Việt Nam để mua cổ phần, cổ phiếu của doanh nghiệp Việt, cho nên việc rà soát an ninh quốc phòng càng cần thiết. Nhiều nước trên thế giới đều áp dụng như Mỹ, EU...” ông Thắng nhấn mạnh.

Một cách nhìn khác, theo ông Lộc, kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, hợp tác xã là nền tảng, còn khối doanh nghiệp FDI đóng vai trò bổ trợ tích hợp vào khu vực kinh tế trong nước. Chính vì vậy, an ninh quốc phòng liên quan tới khả năng tự chủ nền kinh tế, chứ không chỉ nói đến địa bàn, vị trí tham gia. Thực tế cho thấy, nhiều đoàn FDI, doanh nghiệp chân chính rất hoan nghênh chủ trương này.

Về ưu đãi, Phó Chủ tịch UBND TP Hải Phòng Nguyễn Văn Thành đánh giá, 30 năm thu hút FDI, cơ chế ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp nói chung có nhiều lạc hậu, tập trung theo chiều rộng, chứ không theo chiều sâu. Thời gian tới, cần thay đổi cách tiếp cận theo hướng, chỉ ưu đãi phần giá trị gia tăng làm trên đất nước Việt Nam, phần kết nối với doanh nghiệp trong nước...còn những việc nhập khẩu máy móc, gia công thì phải xem xét lại liệu có được ưu đãi hay không. Ông Thành phân tích, hiện nay, Việt Nam tham gia nhiều hiệp định đa phương, song phương nên có nhiều ưu thế lớn. Hơn nữa, các vị trí địa lý của các địa phương như Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai… doanh nghiệp FDI cũng mong muốn được đầu tư. Chính sách ưu đãi chỉ là một phần thúc đẩy họ mà thôi.

Ngoài ra, Nghị quyết cũng nêu rõ, "Xây dựng chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cân đối, hợp lý giữa các vùng miền....". Trên thực tế, doanh nghiệp FDI chủ yếu phân bổ ở vùng thuận lợi hạ tầng như Đồng Bằng Sông Hồng, Đông Nam Bộ...  nếu tiếp tục vậy sẽ dẫn tới tình trạng quá tải, như Đồng Nai có 40 khu công nghiệp đã gây sức ép về chỗ ăn, chỗ ở, nhà trẻ cho lao động địa phương rất khó khăn. Do đó, theo ông Thành, chỗ nào có hạ tầng phát triển sẽ thu hút FDI hàm lượng công nghệ cao. Khu vực còn khó khăn thì nên khuyến khích thu hút FDI để tạo ra nhiều việc làm.

Tuệ Anh