Sổ tay

Yêu cầu công bố kết quả hệ thống hóa văn bản

08:24 | 23/06/2019

Kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) thống nhất trong cả nước kỳ 2014 - 2018 vừa được Bộ Tư pháp công bố cho thấy, tính đến ngày 31.5.2019, đã có 21/22 bộ, cơ quan ngang bộ (đạt 95,4%), 62/63 UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (đạt 98,4%) công bố kết quả hệ thống hóa văn bản; Kiểm toán Nhà nước, VKSNTC công bố kết quả hệ thống hóa văn bản theo quy định. Theo đó, kết quả hệ thống hóa ở Trung ương có 8.748 văn bản; cấp tỉnh có 2.7974 văn bản còn hiệu lực; cấp huyện có 12.844 văn bản hiệu lực… Theo đánh giá của Bộ Tư pháp, các bộ, ngành, địa phương đã nhận thức được ý nghĩa quan trọng của công tác hệ thống hóa văn bản đối với việc chỉ đạo, điều hành các lĩnh vực quản lý nhà nước cũng như để bảo đảm sự minh bạch, thống nhất của hệ thống pháp luật. Chất lượng kết quả hệ thống hóa văn bản, các bộ, ngành, địa phương cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu.

Tuy nhiên, kết quả hệ thống hóa văn bản cũng cho thấy tình trạng văn bản có nội dung chồng chéo, mâu thuẫn, không còn phù hợp với tình hình phát triển KT-XH, không xác định được tình trạng hiệu lực vẫn tồn tại cần kịp thời xử lý theo quy định. Việc hệ thống hóa kỳ 2014 - 2018 còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc như một số bộ, ngành, địa phương còn lúng túng về cách thức triển khai, kỹ năng nghiệp vụ; việc khai thác văn bản trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật còn chưa đáp ứng được yêu cầu. Đặc biệt, có 10/21 bộ, cơ quan ngang bộ, 17/62 UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố kết quả hệ thống hóa không đúng thời hạn; còn 1/22 bộ, cơ quan ngang bộ, 1/63 UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa thực hiện công bố kết quả hệ thống hóa văn bản.

Từ kết quả hệ thống hóa văn bản của các bộ, ngành và địa phương, Bộ Tư pháp đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương chưa hoàn thành việc hệ thống hóa văn bản khẩn trương hoàn thành và thực hiện công bố kết quả hệ thống hóa theo đúng quy định của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Đồng thời, chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương khẩn trương sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới văn bản (trường hợp văn bản thuộc thẩm quyền xử lý) hoặc kiến nghị các cơ quan, người có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới văn bản (trường hợp văn bản không thuộc thẩm quyền xử lý) để bảo đảm sự phù hợp, thống nhất của hệ thống pháp luật.

Phạm Hải