Nhân ngày 1 tháng 6 năm 2008: Ánh mắt tuổi thơ

01/06/2008
Trong cuộc sống bộn bề với bao phiền lụy, bao dồn nén bức xúc trong cuộc mưu sinh giữa cơn bão giá, bao day dứt đắn đo trong suy tư về những gập ghềnh sự nghiệp, những dằn vặt về ngòi bút... thì ánh mắt tuổi thơ chính là nguồn sáng bất tận xua bớt đi những u ám muộn phiền, những bi lụy đa đoan.

      Vì ánh mắt tuổi thơ luôn luôn thật. Đôi lúc đứa trẻ có thể có lời nói dối, khi thì đượm vẻ hồn nhiên, cũng có khi vẩn đục vì sự tác động của môi trường bên ngoài, song đôi mắt trẻ thì không hề dối, không thể giả. Có hàng giả, ý tưởng giả, đạo đức giả, song không thể có ánh mắt tuổi thơ giả. Đó là ân huệ của tạo hóa dành cho trẻ con khi chúng thật sự là trẻ con. Chính vì thế mà học giả đáng kính, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện từng lưu ý chúng ta, “Có thể nói sau 5, 6 tuổi, tính tình con người ta đã hình thành rồi, giáo dục khó mà biến đổi”. Vì thế, ông khuyên: “Để cho trẻ sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của nó, sau lớn lên nó sẽ sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ”. 
      Lời khuyên ấy có hai vế, vế trước là tiền đề của vế sau. Sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu quả thật khó. Nhưng còn khó hơn là sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ. Mà khó hơn, vì người lớn không còn là trẻ con nữa để được tận hưởng ân huệ của tạo hóa. Cho nên, để tận hưởng triệt để ân huệ của tạo hóa đã miễn nhiễm cho đôi mắt trẻ thơ không phải chịu những vẩn đục bụi bậm bẩn thỉu của môi trường ô nhiễm, thì phải cố gắng tối đa trong những điều kiện quá ngặt nghèo và bất cập, để sao cho tuổi thơ được sống thật với chính sức sống và khát vọng của chúng. Nhờ thế khi lớn lên, chúng có thể sống cuộc đời người lớn, cho dù chưa “hoàn toàn” cũng không đến nỗi giả trá.
      Nhân ngày của trẻ con, xin hãy chỉ nói lên hai ước nguyện về trẻ con sẽ trở thành người lớn như thế nào. Đành rằng, đã là ước nguyện, thì tránh sao khỏi những bóng dáng của ảo tưởng. Nhưng thà cứ đánh lên một que diêm lòe chút ánh sáng ảo tưởng, cũng đành với giọt ánh sáng lóe lên ấy sẽ rồi lịm tắt, vẫn còn hơn là chỉ cam chịu “thực tế, thực dụng” ngồi chờ. Que diêm ảo tưởng có sức nặng vạn lần thói cam chịu và đầu hàng, nguồn cơn của nô lệ và tủi nhục của một thời đến tên nước cũng không còn.
      * Một là: Ước sao trẻ con của chúng ta, những trẻ con của một dân tộc kiên cường và bất khuất có mấy ngàn năm lịch sử trường tồn với cái đầu ngẩng cao ý chí độc lập và tự chủ, chúng sớm được rèn luyện bản lĩnh “dám là mình”. Đó phải là phẩm chất số một của con người Việt Nam đang đưa đất nước mình hội nhập vào ngôi làng toàn cầu ngày càng gần gũi và nhỏ hẹp trong một thế kỷ XXI đầy những biến động không sao lường hết được. Không có phẩm chất đó không thể đến với thế giới, không thể chủ động hội nhập để phát triển. Vì hội nhập không phải chỉ để hội nhập, mà hội nhập để phát triển.
      Đã dám là mình thì không khuất phục trước cường quyền và áp bức bất công như ông cha ta đã từng. Không có phẩm chất đó thì dân tộc ta đã không thể tồn tại chứ chưa nói đến phát triển. Biết bao lần kẻ thù đã muốn biến nước ta thành quận huyện của chúng, thậm chí muốn một xứ thuộc mẫu quốc ở tít tắp bên kia đại dương. Mà để được thế thì trước hết phải tiêu diệt ý chí đề kháng đã được hun đúc trong nền văn hóa vốn là nguồn sức mạnh bất tận của dân tộc ta. Tiêu diệt văn hóa để dân tộc ta không còn là mình, không có điều kiện để “dám là mình”, đó là âm mưu đồng hóa xuyên suốt lịch sử trên từng trang nhuốm màu binh lửa, ngoại xâm, đô hộ rồi thực dân thuộc địa. Đến một vị sư  mà khi nói về con đường tu luyện của người nguyện theo giáo lý của đức Phật tổ, mà vẫn không dấu được cái khí phách phải là mình, dám là mình đó: “Nam nhi tự hữu xung thiên chí. Hưu hướng Như Lai hành khứ hành”!  Quả là chống nô lệ giáo điều đến tận cõi tâm linh! Làm trai phải có cái chí xông lên trời thẳm. Việc gì cứ phải nhọc lòng lẽo đẽo dẫm theo vết chân của đức Phật tổ Như Lai, thiền sư Quảng Nghiêm đời Trần thế kỷ XII đã dám viết như vậy. Ông cha ta đã mạnh mẽ biết bao khi rèn cho mình bản lĩnh dám là mình.
      Ấy vậy mà xem ra đó cũng là phẩm chất của con người hiện đại. Chẳng thế mà năm 2005 Tạp chí “Time” đã trao giải nhất cho cô bé Carolin Pan ở thành phố Quezon của Philippines, về câu hỏi  dành cho lứa tuôèi 16-18: “Ai là nhân vật quan trọng nhất thế kỷ XXI” ? Cô bé 16 tuổi này đã trả lời: “Tôi”! Cô bé nói: “Tôi sẽ hét to điều này với tất cả thành phố nếu cần phải làm như vậy. Tôi cho rằng chính tôi, một học sinh trung học, là người quan trọng nhất thế kỷ. Tôi còn chưa ghi dấu ấn của mình vào lịch sử thế giới, và tôi không hề khao khát trở thành một Albert Einstein hoặc Bill Gates khác. Bởi vì tôi chỉ muốn là tôi.... Chúng ta không biết cái gì hay hơn sao? Chúng ta không thể thử ghi dấu ấn bằng chính con người thực sự là của mình hay sao?”.
      Thế giới thống nhất trong tính đa dạng, mà trước hết là đa dạng văn hóa. Hai nền kinh tế và khoa học công nghệ có những bí mật tuyệt đối với nhau, nhưng rồi tàu vũ trụ của Nga và của Mỹ vẫn kết nối được với nhau trên không gian qua sự điều khiển của mặt đất. Mà kết nối được, vì tuy bí mật về công nghệ, nhất là công nghệ chế tác các thiết bị liên quan đến an ninh quốc phòng thì càng phải tuyệt đối, nhưng nguyên lý của các hoạt động công nghệ ấy thì chỉ là một. Và đấy là khoa học, là công nghệ. Trong văn hóa nghệ thuật thì không như thế. Không có một nền văn hóa này cao hơn một nền văn hóa khác. Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có quyêçn tự hào về nền văn hóa của mình, cái làm nên bản sắc riêng của mình. Càng hội nhập, càng phải tôn trọng bản sắc riêng của mỗi quốc gia, dân tộc. Chính vì thế, chúng ta phải đến với thế giới bằng chính bản sắc văn hóa của mình. Đánh mất bản sắc văn hóa đồng nghĩa với đánh mất mình. Mà nói đến văn hóa, chính là nói đến con người. Cho nên, để đến với thế giới, để hội nhập mà không tự đánh mất mình, phẩm chất cơ bản nhất của con người trong thời đại hiện nay là phải biết và dám tự khẳng định mình, phải dám là mình. Phải xót xa để nói lên rằng, hiện nay, phẩm chất này đang còn quá thiếu và quá yếu.
      Đấy là duyên do của ước vọng thứ nhất đối với trẻ em, khi chúng cần được sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của chúng, chúng cần được tạo điều kiện, tạo môi trường, được dạy dỗ để hình thành nên tố chất biết tự khẳng định mình, dám là mình.
      * Hai là: Ước vọng tiếp theo với trẻ em của chúng ta được sống đầy đủ thời thơ ấu của chúng để rồi chúng trở thành người lớn: Chúng được chơi. Chơi là một nhu cầu của trẻ con, nhu cầu ấy cũng giống như không khí để thở vậy. Chơi và biết cách chơi, được tạo điều kiện để chơi một cách hồn nhiên, thoải mái và lành mạnh là một cách nuôi dưỡng tinh thần và thể chất của trẻ. Chính trong khi chơi, chúng đã học. Học cách sống, học cách ứng xử với ngoại cảnh, với môi trường, với bạn bè, với cộng đồng nhỏ bé của chúng. Cũng qua chuyện chơi, chúng sống một cách đầy đủ tuổi thơ ấu của chúng.
      Hãy quan sát phần lớn các vườn trẻ, lớp mẫu giáo của chúng ta, từ thành thị đến nông thôn xem trẻ em của chúng ta đã được chơi như thế nào sẽ hiểu ra được rồi sau này chúng sẽ “sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ (!)” như thế nào. Giờ đây cũng đã có nhiều “trường quốc tế” biết dạy cách chơi cho trẻ nhỏ. Nhưng thử hãy đếm xem có bao nhiêu con em chúng ta có điều kiện để được chơi như vậy? 
      Nhưng đừng có nghĩ rằng, phải ngôi trường hiện đại có máy điều hòa nhiệt độ và sân chơi với đủ các tiện nghi thì mới có thể tạo cho trẻ con của chúng ta được chơi. Nếu vậy thì trò chơi của trẻ chăn trâu bẻ cờ lau làm hiệu thời Đinh Bộ Lĩnh của một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thế kỷ thứ X đã từng phát huy và tuyển chọn những tài năng nổi trội ghi vào sử sách không là trò chơi sao?
      Một bầu trời trong xanh với cánh diều trẻ chăn trâu bay lượn để nuôi dưỡng những ước mơ xanh của bao thế hệ Việt Nam chẳng lẽ không là một kỷ niệm sống động của bao tâm hồn tuổi thơ đó sao? Và rồi những con sông quê hương chưa bị bốc mùi hôi thối vì chất thải công nghiệp và chất thải đô thị tuôn thẳng vào đã biến thành màu nâu sẫm hay mầu đen kịt, mà vẫn còn thơ mộng như thuở nào với “nước gương trong soi tóc những hàng tre, tâm hồn tôi là những buổi trưa hè, tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng, chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng, giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi” chẳng nhẽ không từng nuôi dưỡng bao khát vọng tuổi thơ đó sao? 
      Trẻ em như búp trên cành, biết vui chơi biết học hành là ngoan. Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng năm 1949, Bác Hồ căn dặn “phải giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng (chớ nên làm cho chúng hóa ra những “người già sớm”. Nhiều thư các cháu gửi cho Bác Hồ, viết như người lớn viết; đó là một triệu chứng già sớm nên tránh). Trong lúc học, cũng cần cho chúng vui, trong lúc vui cũng làm cho chúng học. Ở trong nhà, ở trường học, ở xã hội, chúng đều vui, đều học” (1).
      Mà nghĩ cho kỹ, thì ra cái chuyện chơi này cũng liên quan chặt với chuyện dám là mình nói trên của trẻ. Nếu từ thời thơ ấu, trẻ chỉ được rèn chuyện “gọi dạ, bảo vâng”, quen dạy cho động tác cúi đầu thưa gửi thì sẽ thành mẫu “người lớn” được cấp trên ưa thích, những mẫu người rất thích nghi với thói quen nịnh hót “dạ thưa anh”. La Rochefoucauld, nhà tiểu thuyết tâm lý người Pháp, từng viết rất thâm thúy: “Đôi lúc ta tưởng rằng mình ghét sự nịnh hót, nhưng thật ra, ta chỉ ghét cách nịnh hót mà thôi”! Tâm lý cố hữu rất dễ hiểu ấy cần phải được ngăn chặn từ thuở ấu thơ, trẻ phải dám là mình chứ không thể là cái bóng của người khác, cho dẫu đó là cha mẹ mình kính yêu. (Thì như Phật tổ Như Lai trong bài kệ đã dẫn nói trên chẳng đã gợi lên những điều cần gửi gấm đó sao?). 
      Ngăn chặn không phải là tập cho trẻ thói xấc xược vô lễ, mà là phải nhìn cho ra và triệt tận gốc thói nô lệ chỉ biết vâng dạ và khuất phục trước cường quyền, không dám đấu tranh cho lẽ phải, cho chân lý. Xem vậy mà triệt không phải dễ. Nhất là khi nền giáo dục của chúng ta đang có quá nhiều vấn đề phải giải quyết mà đôi khi việc “đào tạo hai van tiến sĩ” lại đang chiếm giữ vị trí quan trọng trong tư duy của ai đó hơn là việc dạy cho trẻ biết dám là mình và biết chơi, được chơi trong khi chúng phải được sống đầy đủ thời thơ ấu của chúng.
      Nhân ngày 1 tháng 6, hy vọng những điều gợi lên ở trên không bị xem là ngớ ngẩn trong cái buổi mà mọi tính toán đều được ghi thành con số. Mà con số có thể là đầy sức cám dỗ và thuyết phục khi nó đi vào số đông.

Tương Lai

      ______________
      1. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5,  NXB chính trị Quốc gia 1995, trang 712