Bạn đọc viết

Có hạn chế quyền tự do kinh doanh?

08:00 | 10/06/2019
Việc chống các hành vi rửa tiền nên được xử lý bằng các quy định về xác thực thông tin và kiểm soát giao dịch hơn là đưa ra quy định cứng nhắc về hạn chế số lượng ví điện tử là ý kiến của đại diện nhiều doanh nghiệp (DN) xung quanh những đề xuất tại dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-NHNN hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán (dự thảo) đang được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lấy ý kiến.

Theo đó, Điều 9.5 dự thảo quy định hạn mức giao dịch của một ví điện tử là 20 triệu đồng/ngày và 50 triệu đồng/tháng đối với khách hàng cá nhân; 100 triệu đồng/ngày và 500 triệu đồng/tháng đối với khách hàng là tổ chức. Theo ý kiến của nhiều DN trung gian thanh toán, quy định này sẽ hạn chế quyền tự do kinh doanh của DN và không phù hợp với nhu cầu sử dụng ví điện tử của khách hàng, đặc biệt là hạn mức theo ngày. Nhiều loại hàng hóa, dịch vụ hiện nay như đồ điện tử gia dụng, điện thoại di động, máy vi tính, vé máy bay, đặt phòng khách sạn, tour du lịch… có mức chi trả vượt quá hạn mức 20 triệu đồng. Còn với các DN thì các hoạt động chi trả tiền thưởng, phụ cấp cho nhân viên, hỗ trợ cho đại lý bán lẻ trong các đợt khuyến mãi… có thể vượt quá hạn mức 100 triệu đồng/ngày. Việc đặt ra hạn mức sẽ khiến khách hàng buộc phải duy trì 2 hay nhiều tài khoản thanh toán cùng một lúc. Điều này gây tốn kém chi phí xã hội và không phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế số.

Theo lý giải của Ban soạn thảo, quy định này nhằm “giảm thiểu rủi ro về lợi dụng ví điện tử để rửa tiền, thực hiện các hoạt động bất hợp pháp, phù hợp với mục đích sử dụng dịch vụ ví điện tử là phục vụ thanh toán các giao dịch nhỏ, lẻ”. Tuy nhiên, các giải trình này không nêu rõ thực tiễn thời gian qua đã có trường hợp nào thực hiện hành vi rửa tiền, hoạt động bất hợp pháp qua ví điện tử với giá trị giao dịch lớn, vượt hạn mức được nêu trong dự thảo. Hơn nữa, giải trình này cũng không rõ vì sao lại đưa ra chủ trương chính sách là “mục đích sử dụng dịch vụ ví điện tử là phục vụ thanh toán các giao dịch nhỏ, lẻ”. Đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng, việc xác định hạn mức thanh toán nên để khách hàng tự lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mỗi cá nhân, tổ chức.

Ngoài quy định hạn mức, thì đề xuất hạn chế số lượng ví cũng là băn khoăn của nhiều DN. Theo đó, dự thảo quy định mỗi khách hàng chỉ được mở 1 ví điện tử tại một DN cung cấp dịch vụ. Lý giải cho quy định này, cơ quan soạn thảo cho rằng là “nhằm tránh lãng phí, ngăn ngừa tình trạng khách hàng đăng ký mở ví điện tử tràn lan, dẫn đến việc sử dụng ví điện tử là không thực chất hoặc hành vi lợi dụng mở nhiều ví điện tử để thực hiện các hành vi rửa tiền, bất hợp pháp”. Lý giải này chưa hợp lý, việc cơ quan nhà nước lo ngại lãng phí, mở ví tràn lan, sử dụng ví không thực chất là không cần thiết. Các DN và khách hàng sẽ đánh giá được sự lãng phí hay cần thiết của việc mở thêm ví mới. Đáng nói là lý giải này không rõ mối quan hệ giữa việc mở nhiều ví và việc thực hiện hành vi rửa tiền, bất hợp pháp.

Hiện, không có quy định nào hạn chế số tài khoản thanh toán một khách hàng được mở tại một ngân hàng. Trên thực tế cũng chưa ghi nhận tình trạng lợi dụng việc mở nhiều tài khoản thanh toán tại cùng một ngân hàng hoặc nhiều ví tại một DN cung cấp dịch vụ để thực hiện hành vi bất hợp pháp. Việc chống các hành vi bất hợp pháp nên được xử lý bằng các quy định về xác thực thông tin và kiểm soát giao dịch hơn là đưa ra quy định cứng nhắc về hạn chế số lượng ví. Việc tách thành nhiều ví điện tử hoặc nhiều tài khoản thanh toán phù hợp với nhu cầu của một số khách hàng có nhiều giao dịch và muốn hạch toán riêng từng nhóm giao dịch. Chẳng hạn, một cá nhân kinh doanh có một ví dành cho chi tiêu cá nhân và một ví dành cho hoạt động kinh doanh; hoặc một số DN cần tách bạch chi phí cho nhân viên, chi phí hoặc doanh thu cho đại lý bán lẻ, hoặc chi phí cho từng chương trình khuyến mãi…

Đình Khoa