Bước tiến mới cho phát triển bền vững

08:22 | 13/12/2018
Việt Nam có lịch sử nghiên cứu, điều tra địa chất và khoáng sản từ những năm cuối thế kỷ XIX. Đến nay, nước ta đã hoàn thành công tác đo vẽ lập bản đồ địa chất, điều tra khoáng sản các tỷ lệ 1:500.000, 1:200.000 trên toàn diện tích phần đất liền và tỷ lệ 1:50.000 đạt khoảng 73% diện tích. Hoạt động điều tra, đánh giá, thăm dò và khai thác khoáng sản được bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ trước. Hàng ngàn mỏ khoáng sản đã được phát hiện và đưa vào thăm dò, khai thác.

Thành tựu khoa học nổi bật

Nghiên cứu khoa học địa chất, tài nguyên khoáng sản và năng lượng đã đạt nhiều thành tựu cơ bản ở Việt Nam và đang tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học về Trái đất, khoáng sản và tìm kiếm, sử dụng các nguồn năng lượng mới. Tại Đại hội Địa chất, Tài nguyên, khoáng sản và năng lượng Đông Nam Á lần thứ 15 (GEOSEA XV), Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho biết: Việt Nam đang tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học về Trái đất, khoáng sản và tìm kiếm sử dụng các nguồn năng lượng mới. Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho rằng, với sự đa dạng về địa chất, tài nguyên khoáng sản, các nguồn năng lượng tái tạo, Việt Nam luôn sẵn sàng là địa chỉ để các tổ chức, các quốc gia, nhà khoa học thực hiện các dự án hợp tác nghiên cứu về địa chất, tài nguyên và năng lượng.


PGS.TS. Đỗ Cảnh Dương - Tổng Cục trưởng Tổng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam cho biết: Việt Nam có lịch sử nghiên cứu, điều tra địa chất và khoáng sản từ những năm cuối thế kỷ XIX. Đến nay, Việt Nam đã hoàn thành công tác đo vẽ lập bản đồ địa chất, điều tra khoáng sản các tỷ lệ 1:500.000, 1:200.000 trên toàn diện tích phần đất liền và tỷ lệ 1:50.000 đạt khoảng 73% diện tích. Hoạt động điều tra cơ bản địa chất, khoáng sản biển được đẩy mạnh từ những năm cuối thế kỷ XX, đã hoàn thành ở tỷ lệ 1:500.000 đới biển nông ven bờ (độ sâu 0 - 100m nước); đồng thời tỷ lệ 1:250.000, 1:100.000, 1:50.000 đã được hoàn thành ở một số khu vực biển.

Công tác điều tra, đánh giá khoáng sản đã phát hiện và xác định tài nguyên của hàng trăm khu mỏ khoáng sản có quy mô về tài nguyên, trữ lượng khác nhau. Một số loại khoáng sản có giá trị mới được phát hiện như: Quặng titan - zircon sa khoáng trong tầng cát đỏ phân bố ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu đạt trên 550 triệu tấn tinh quặng; phát hiện mới và chính xác hóa tổng tài nguyên quặng bauxit miền Nam Việt Nam trên 9,5 tỷ tấn quặng nguyên khai. Nhiều mỏ mới đã được đưa vào thăm dò, khai thác như: Mỏ đồng Tả Phời, Lào Cai; các mỏ magnezit Kong Queng, Gia Lai; sắt, đồng, mangan; chì - kẽm ở Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ; thiếc, wolfram ở Trung Trung Bộ; quặng kim loại Liti ở Quảng Ngãi; các khoáng chất công nghiệp như: Kaolin, felspat, đá hoa trắng, cát thủy tinh, dolomit, diatomit… và vật liệu xây dựng đá vôi, đá ốp lát, cát cuội sỏi, sét gạch ngói... đã được phát hiện ở nhiều tỉnh thành trong cả nước.

Phát triển bền vững

Tài nguyên là hữu hạn, hầu hết không tái tạo nên khi khai thác khoáng sản phải tuân thủ nguyên tắc theo quy định của Luật Khoáng sản. Theo đó, khai thác khoáng sản phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch khoáng sản đã duyệt; gắn với bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và các tài nguyên thiên nhiên khác; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Mặt khác, khai thác khoáng sản phải lấy hiệu quả kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường làm tiêu chuẩn cơ bản để quyết định đầu tư; áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến, phù hợp với quy mô, đặc điểm từng mỏ, loại khoáng sản để thu hồi tối đa khoáng sản.

PGS.TS. Đỗ Cảnh Dương cho biết: Việc định hướng khai thác bền vững khoáng sản, gắn với bảo vệ môi trường phải được thực hiện ngay trong quá trình lập quy hoạch khoáng sản. Theo đó, quy hoạch khai thác các mỏ khoáng sản phải cân đối giữa bảo đảm đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước với việc dự trữ khoáng sản lâu dài cho tương lai, phù hợp với trình độ, kỹ thuật khai thác, chế biến và mục tiêu sử dụng hiệu quả khoáng sản. Khi chấp thuận chủ trương đầu tư cho dự án đầu tư khai thác khoáng sản cần làm rõ năng lực của nhà đầu tư để lựa chọn, yêu cầu phải đáp ứng tiêu chí khi khai thác phải thu hồi tối đa khoáng sản chính, các khoáng sản đi kèm, đồng thời phải sử dụng hiệu quả, tiết kiệm khoáng sản sau khai thác. Đối với loại khoáng sản mà do trình độ công nghệ khai thác, chế biến tại thời điểm lập dự án đầu tư chưa thể thu hồi, phải có quy hoạch lưu giữ để tiếp tục thu hồi, sử dụng khi có đủ điều kiện.

TS. Bùi Đức Thắng, Tổng Thư ký Tổng hội Địa chất cho biết: Nước ta không giàu tài nguyên khoáng sản mà chỉ là đất nước đa dạng về khoáng sản. Các loại khoáng sản nước ta có nhiều như Bauxit hiện đứng thứ 4 thế giới, sau Guinea, Australia, Brazil nhưng nhu cầu sử dụng của Việt Nam không nhiều. Ngược lại, những thứ quý giá có thể tăng nguồn thu nhập đáng kể cho nền kinh tế song Việt Nam có ít hoặc không có là đá quý, kim cương. Tổng hội đã có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ đề nghị đánh giá đúng đắn tiềm năng khoáng sản của đất nước, trong đó đặc biệt lưu ý khái niệm tài nguyên và trữ lượng. Mới đây nhất, trong dự thảo báo cáo của Ban cán sự Chính phủ về Biến đổi khí hậu và bảo vệ tài nguyên môi trường gửi lên Bộ Chính trị khẳng định Việt Nam có tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng, cần sử dụng hợp lý, tiết kiệm bảo đảm an sinh xã hội và môi trường.

Luật Khoáng sản năm 2010 với một số quy định mới lần đầu tiên áp dụng đến nay đã thực hiện được 8 năm. Ngoài những mặt tích cực, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về khoáng sản, đưa công nghiệp khai khoáng nước ta ổn định và chuyển dần phát triển từ bề rộng sang chiều sâu thì cũng có những vấn đề tồn tại, hạn chế, bất cập. Do đó, cần sớm sửa đổi, bổ sung quy định mới để hoàn thiện pháp luật về khoáng sản, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước về khoáng sản trong giai đoạn mới.

Anh Hiến