Khơi thông hoạt động sở hữu trí tuệ trong viện nghiên cứu, trường đại học

22:09 | 10/12/2018
Theo ông Phan Ngân Sơn, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, giá trị tài sản trí tuệ có thể lớn hơn rất nhiều so với giá trị các tài sản hữu hình. Theo đó, việc bảo hộ và khai thác hiệu quả giá trị tài sản trí tuệ sẽ góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế, nâng cao năng lực, vị thế của các doanh nghiệp, tổ chức khoa học, từ đó giúp tạo ra các sản phẩm có giá trị lớn, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường trong và ngoài nước. Tuy nhiên, hoạt động này đang có nhiều “điểm nghẽn” cần tháo gỡ...

Vẫn còn "khoảng trống"về nhận thức bảo hộ sáng chế trong sinh viên (ảnh minh họa)

Đâu là điểm nghẽn ?
 
Theo thống kê của Liên đoàn Kế toán Quốc tế cho thấy, nếu như vào những năm 1975, tài sản hữu hình chiếm đến 83% giá trị của doanh nghiệp thì sau 40 năm, con số này chỉ còn 16%. Cũng theo thống kê năm 2013 thì 80% giá trị của doanh nghiệp đưa lại là do quản lý tài sản vô hình, 20% là hữu hình.
 

Chương trình phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2016-2020 đã hỗ trợ bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ cho gần 30 sản phẩm đặc thù của địa phương về bảo hộ sở hữu trí tuệ, kiểm soát nguồn gốc, chất lượng sản phẩm được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo chuỗi; Hỗ trợ bảo hộ ra nước ngoài cho các sản phẩm chủ lực của địa phương: Cục sở hữu trí tuệ đang tiến hành lập hỗ trợ lập và nộp hồ sơ đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại Nhật Bản cho 03 sản phẩm là Thanh long Bình Thuận, Cà phê Buôn Ma Thuột và Vải thiều Lục Ngạn.

 

 

 

 

 

 

Con số trên được các đại biểu đưa ra tại Hội thảo “Tăng cường khả năng quản lý, thúc đẩy hoạt động sở hữu trí tuệ trong viện nghiên cứu, trường đại học” đã cho thấy tầm quan trọng của tài sản vô hình đối với việc định giá các doanh nghiệp trên thị trường. 

Tại Việt Nam, nếu như trước đây, tình trạng đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các viện, trường còn chiếm tỷ lệ thấp so với kết quả nghiên cứu của nhà khoa học, so với lượng đơn Cục Sở hữu trí tuệ nhận được. Cụ thể năm 2015, số lượng đăng ký sáng chế của các viện, trường chỉ chiếm ¼ so với tổng số đơn của các nhà sáng chế Việt Nam. Nhưng đến năm 2017 tăng lên trên 30%, sự gia tăng số đơn cho thấy nhận thức của các Viện, trường được nâng cao.
 
Mặc dù có sự gia tăng nhanh về số lượng đăng ký sáng chế của các viện, trường, nhưng vẫn còn có nhiều hạn chế trong hoạt động ở các viện, trường. Vấn đề này có thể thấy, đầu tiên là do phần lớn các viện, trường chưa có một chính sách riêng về sở hữu trí tuệ phù hợp với điều kiện hoạt động của trường. Một số trường có chính sách phân định về quyền sở hữu để phân chia lợi nhuận khi tài sản trí tuệ được thương mại hóa, tuy nhiên phần nhiều các trường chưa có.
 
Bên cạnh đó, mặc dù nhận thức về sở hữu trí tuệ trong các viện, trường hai năm trở lại đây được gia tăng rõ rệt nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, việc xác lập quyền bảo hộ sáng chế cho các sản phẩm nghiên cứu khoa học chưa được nhận thức một cách đầy đủ. Đặc biệt, các nhà khoa học chưa đánh giá đúng về khả năng bảo hộ sáng chế cho sản phẩm nghiên cứu nên chưa tiến hành đăng ký.
 
Cùng với đó là do các viện, trường chưa có một tổ chức có chức năng về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ để hỗ trợ cho các nhà khoa học, có nghĩa chưa có một nguồn nhân lực chuyên nghiệp về sở hữu trí tuệ trong các viện, trường. 
 
Vấn đề tiếp theo là việc khai thác thông tin sáng chế của các viện, trường không được chú trọng, gây ra tình trạng lãng phí nguồn lực, đôi khi các nghiên cứu bị trùng lặp với giải pháp có sẵn trên thế giới nên không hoạch định được chiến lược nghiên cứu hiệu quả và dài hạn.
 


Cần tạo nguồn nhân lực trong hệ thống sở hữu ở sinh viên và các viện nghiên cứu (ảnh minh họa)

Một hạn chế nữa là mặc dù những năm gần đây số lượng đăng ký bài báo trên các tạp chí của viện, trường gia tăng đáng kể, tuy nhiên đa phần các nhà khoa học cũng không nhận thức được đồng thời với việc đẩy mạnh công bố các bài báo khoa học, cần phải tiến hành bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, đặc biệt là bảo hộ sáng chế cho các kết qủa nghiên cứu của mình.
 
Cùng tháo gỡ khó khăn

Chương trình phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2016-2020 đã phối hợp với 2 cơ sở đào tạo đầu ngành chuyên ngành Luật là Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh và Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội để đào tạo chuyên sâu về sở hữu trí tuệ cho các đối tượng là cán bộ sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp, các luật sư, giảng viên đại học, các nhà khoa học, cán bộ thực thi về sở hữu trí tuệ; Hỗ trợ Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh và các đơn vị có lên quan tổ chức đào tạo trong lĩnh vực bản quyền tác giả, các đối tượng hướng tới là cán bộ công tác trong lĩnh vực văn hóa, âm nhạc, văn học nghệ thuật ….

 

 

 

 

 

 

Hiện Cục Sở hữu trí tuệ là đơn vị được Bộ Khoa học và Công nghệ giao cho quản lý Chương trình phát triển tài sản trí tuệ- gọi tắt là Chương trình 68-Theo đó, Chương trình này có các dự án nâng cao năng lực sở hữu trí tuệ cho các trường đại học, tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu, tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp, không những cho các viện, trường mà cho cả các thành phần khác như doanh nghiệp, nhà quản lý, các địa phương cũng như các nhà thực thi…để tạo ra nguồn nhân lực trong hệ thống Sở hữu trí tuệ. 
 
Cục Sở hữu trí tuệ cũng đang cùng WIPO triển khai Dự án khởi tạo môi trường sở hữu trí tuệ nhằm tạo ra một hệ sinh thái sở hữu trí tuệ, xây dựng một mạng lưới các tổ chức sở hữu trí tuệ của các viện, trường, trong đó sẽ giúp cho các viện, trường xây dựng được đội ngũ cán bộ chuyên trách có kỹ năng chuyên sâu về khai thác thông tin sáng chế phục vụ xác lập quyền và quản trị tài sản trí tuệ, để trên cơ sở đó hỗ trợ cho các hoạt động sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ trong các viện, trường.
 
Để thực thi được kế hoạch trên, trước tiên các viện, trường phải xây dựng được một tổ chức có chuyên môn, có chức năng riêng biệt về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công  nghệ. Theo đó, dự án sẽ xây dựng được một mạng lưới kết nối tạo ra hệ sinh thái sở hữu trí tuệ theo mô hình "Trục xoay" và "Nan hoa"… bằng sự kết hợp này, hy vọng rằng việc khơi thông hoạt động sở hữu trí tuệ trong viện nghiên cứu, trường đại học sẽ đạt nhiều kết quả trong thời gian tới. 

Bảo Ngân