Trường xưa (Phần 1)
Truyện ngắn của LẠI VĂN LONG

08:48 | 05/01/2015

Minh họa của Đặng Hồng Quân 

>> Trường xưa (Phần cuối)

Ngôi trường thơ mộng giữa thị xã Đà Lạt mát lạnh cây xanh và rực rỡ sắc hoa. Những con phố Đà Lạt sang trọng, êm đềm, chiều chiều thơ thẩn bước chân lữ khách; những dinh thự kiêu hãnh, tiếng vó ngựa thôi thúc bên hồ Xuân Hương phủ sương mai buốt giá… tôi mang theo hoài niệm ấu thơ trên chuyến xe tải ngả nghiêng những khuôn mặt hoang mang trên đường xuôi Nam về vùng kinh tế mới. Xe chậm chạp xuống đèo Prenn, rừng thông hoảng hốt chia tay “đoàn quân vô sản” đi khai hoang đất đai, tôi mười hai tuổi thấy lòng âm u đến lạ.

Đó là sáng cuối năm 1976, Đà Lạt được giải phóng hơn bốn trăm ngày…

Đi vài chục cây số theo quốc lộ 20, đoàn xe rẽ trái vào đường rừng. Đây là con đường khai thác gỗ, hai dấu mòn của xe be chở gỗ lầm lũi kéo dài mãi vào rừng sâu thành con đường gập ghềnh với đầy rẫy gốc cây, đá tảng và những ổ voi làm xe nghiêng muốn lật. Thỉnh thoảng bên đường lại xuất hiện buôn làng hiu hắt của đồng bào thiểu số với nhà sàn, cũ kỹ, đàn heo ủn ỉn, bộ cối chày giã gạo và những đứa trẻ trần truồng lem luốc. Nương rẫy xen kẽ với rừng, lúa nương, bắp, đậu, khoai sắn xanh um. Trên xe bỗng vui lên, người ta chỉ vào nương rẫy, đố nhau “cây gì?”… Đám dân nghèo thành thị và các gia đình sĩ quan, binh lính, công chức của một chế độ vừa thành quá khứ cố tìm niềm vui trên đường đi Kinh tế mới. Chỉ vài tháng sau, những khắc nghiệt từ cuộc sống hoang dã sẽ làm những nụ cười già đi rất nhanh cùng mồ hôi, nước mắt, bệnh tật…

Gần trưa, đoàn xe dừng lại ở một bãi rộng vừa phát hoang bên cạnh doanh trại của hàng trăm nam nữ tiểu tư sản một thời, giờ là “Paven của vùng kinh tế mới”. Họ đội nón tai bèo, mang dép râu cùng mặc cảm “tàn dư chế độ cũ”. Họ đang phấn đấu để gột rửa lý lịch, để được tự hào với bộ đồng phục xanh cùng danh hiệu “thanh niên xung phong”. Họ vui vẻ túa đến giúp đỡ cho đoàn di dân ngơ ngác còn nguyên mùi thành thị. Sau khi bốc thăm, mỗi gia đình được tạm chia ba trăm mét vuông đất còn lởm chởm gốc cây, rễ tranh để cất nhà. Những tấm tôn mới từ xe tải được bốc xuống để chia cho dân. Cùng với tôn, là gạo được cấp cho mỗi gia đình để vỡ hoang, trồng trọt. Chiều hôm đó, những căn nhà hai mái như chuồng cu, một mái suôn đuột như nhà kho, đã lấp lánh màu tôn sáng chói theo trục đường mới mở. Một làng Kinh tế mới vừa hình thành. Đoàn xe tải quay về Đà Lạt chở đầy lực lượng thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ. Họ hát vang trời bài ca cách mạng rồi thanh thản ra đi, khu làng mới chìm trong hoàng hôn ảm đạm.

*
*    *

Những đứa trẻ thành phố chúng tôi bắt đầu cuộc đời mới với biết bao thú vị. Không còn phải đến trường, ngày ngày chúng tôi tha hồ đi câu cá, bắt tổ chim, bẫy chồn, thỏ và phụ gia đình phá rừng đào rễ cây, cuốc đất trồng khoai, tỉa bắp, đậu… Trước mỗi ngôi nhà mới dần dần xanh giàn bí bầu mướp cùng bầy gà tục tác rất dễ thương. Cuộc sống mới mẻ, êm đềm trôi qua rất nhanh. Sáu tháng hưởng trợ cấp lương thực chấm dứt, mấy trăm con người đứng trước nguy cơ đói khi mớ khoai bắp ít ỏi thu được từ vụ mùa đầu tiên chỉ đủ cầm cự không quá một tháng. Cả làng kéo nhau vào những cánh rừng xa hơn để chặt củi, đốt than rồi lẽo đẽo gánh bộ hai mươi cây số ra chợ huyện bán. Đây là màn mở đầu cho mười năm tận khổ ở vùng kinh tế mới.

*
*    *

Mùa hè dài nhất (hơn một năm kể từ khi tôi đến vùng kinh tế mới) rồi cũng chấm dứt. Chúng tôi có trường mới, cách làng hơn một cây số. Trường nằm giữa một khu rừng bị tàn phá nham nhở, bên cạnh là khu nhà mồ của đồng bào thiểu số với những bức tượng gỗ sinh động đến sởn gai ốc. Một dãy nhà cấp bốn gồm năm phòng học quét vôi trắng dành cho cấp hai. Dãy thứ hai cất bằng cây rừng tranh tre là khối cấp một. Giữa hai dãy nhà có con suối róc rách, nước trong thấy cả mấy con cá bé tẹo. Khu tập thể giáo viên cách các lớp học hơn trăm bước chân – một dãy nhà gỗ xẻ lợp tôn. Tôi bước vào lớp sáu với những đứa bạn lớn tồng ngồng, có đứa khai ít lại bốn năm tuổi do bỏ học đã lâu. Ở lớp tám lớp chín có anh chị trông còn già hơn thầy cô. Đám bạn lớn này là con em các gia đình chế độ cũ đưa vào đây theo diện di dân lập ấp từ những năm trước 30.4.1975, vào sớm không có trường nên phải chờ lịch sử sang trang. Còn dân Kinh tế mới chúng tôi là sản phẩm của chế độ mới. Hai lứa tuổi bầm giập chuyện học hành vì chiến tranh thời cuộc cùng ngơ ngác giữa sân trường ngập nước ngày khai giảng.

Vào năm học mới, từ lớp bốn đến lớp chín học buổi sáng, buổi chiều phải lao động. Những bạn nhà xa phải mang theo cơm độn khoai, bắp để ăn trưa và cuốc xẻng để chiều lao động. Bước vào mỗi lớp học đều có câu khẩu hiệu lao động là vinh quang và cuốc xẻng dựng thành đống bên cạnh bảng đen. Suốt mấy năm dưới mái trường xã hội chủ nghĩa ở vùng kinh tế mới này, học trò từ nam đến nữ lớn đến nhỏ tay chân đều chai sần vì lao động và đi chân đất. Đều cùng một màu đồng phục của loại vải mà năm đó hợp tác xã mang về phân phối. Có khi cả sân trường nâu sồng như tu viện Phật giáo, có lúc xanh như doanh trại quân đội hoặc sặc sỡ như sân khấu hát bội.

Giờ lao động học sinh đào đất đắp sân, trồng khoai sắn bắp, đào giếng lấy nước sinh hoạt và làm vườn rau xanh cho thầy cô. Lớp chúng tôi còn vinh dự được giao đi đốn tre cắt tranh về làm nhà bếp và đào hố rác hố xí cho khu tập thể giáo viên. Đất rất cứng, nhát cuốc bổ xuống lại nảy lên đau rát bàn tay. Nhiều hôm cả lớp quần quật đến tối mịt mới được về. Vất vả thế nên được thầy cô thương, học dốt một tí cũng có điểm trung bình để lên lớp. Một tuần chỉ đến lớp một hai ngày cũng được thông cảm.

*
*    *

Mỗi khi chào cờ hay lễ lạt, thầy hiệu trưởng tên Bình Nam thường đăng đàn dạy chúng tôi phải căm thù Mỹ ngụy rồi gọi miền Nam là phồn vinh giả tạo, bãi rác của chế độ thực dân mới… Thầy nói rằng chúng tôi đã may mắn được giải phóng, nếu không khi lớn lên con gái sẽ thành đĩ điếm, con trai làm lưu manh, cướp giật hay tay sai đế quốc. Thầy kể về quê hương Hà Lam Linh (Hà Nam Ninh) của thầy như thiên đường, trai gái nô nức thi đua lập thành tích. Thầy khuyên chúng tôi nên học tập Hà Lam Linh để sớm trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa. Thầy rất hùng biện, nói một lát nóng người thì mở dây kéo cái áo pilot đang mặc trên người. Tôi nhớ sau ngày giải phóng, lúc còn ở Đà Lạt, ba tôi cũng có một cái áo pilot trang bị cho phi công Mỹ ngụy như thầy. Khi nhà hết gạo, ba đành cởi ra để mẹ mang ra chợ trời bán được mấy đồng “tiền mới”, mua được vài ký gạo cho cả nhà chống đói. Có thể cái áo thầy đang mặc diễn thuyết là của ba tôi ngày đó. Ba tôi dân nghèo thành thị, mặc áo Mỹ phế thải cho đỡ lạnh. Còn thầy, diễn giả xuất sắc của học thuyết đấu tranh giai cấp, nhà khai chính (khai hóa chính trị) cho đám tàn dư chế độ cũ, mặc cùng với nón cối, dép râu để tạo ra hình ảnh đặc sắc buổi giao thời. Ngoài cái áo giặc lái, thầy còn có chiếc Honda dame có lẽ cũng mua giá rẻ từ chợ trời sau đại thắng mùa xuân. Thầy cưỡi con ngựa sắt chiến lợi phẩm đi công tác ngoài huyện, đi xuống các thôn “khai chính” với vẻ mặt rất quan trọng. Có lần thầy Bình Nam đang hùng hổ với bài chính trị quen thuộc thì cô Ánh dạy văn ngã lăn ra bất tỉnh. Cô được các cô giáo khác đưa vào phòng Ban giám hiệu chăm sóc với khuôn mặt xanh lè, ói lênh láng. Cô Ánh là con một sĩ quan cấp tá với một nữ ca sĩ chế độ cũ. Sau giải phóng ba cô đi học tập cải tạo, nhà bị tịch thu, mẹ đưa mấy con về tá túc nhà ngoại rồi ra lăn lộn buôn bán chợ trời nuôi gia đình. Cô đang học năm ba Văn Khoa được chuyển sang học ba tháng sư phạm cấp tốc rồi được điều về vùng đất mới này. Cùng diện tàn dư chế độ cũ như cô Ánh còn có thầy Hoàng dạy Anh văn, thầy Sinh dạy Toán, thầy Tuấn dạy Sử - Địa; cô Quy dạy Hóa, cô Hồng dạy Vật lý… Họ thường ngồi thành nhóm giữa sân trường nắng chói chang cùng hơn năm trăm học sinh cúi đầu nghe khai chính. Ngày khai trường - cô Ánh, cô Quy, cô Hồng… còn mặc áo dài, đi guốc cao gót. Thầy Hoàng, thầy Sinh, thầy Tuấn… còn bỏ áo trong quần ống loe, thắt cravat, mang giầy lên lớp. Giữa sân trường hàng ngũ đông đúc, lặng lẽ, thầy hiệu trưởng đã trợn mắt quát ầm ầm, gọi các thầy cô này là… tiểu tư sản đỏng đảnh, gọi cách ăn mặc như thể là… học đòi bọn bóc lột. Từ ngày đó, các thầy cô “tàn dư” không còn dám trưng diện. Họ chuyển sang trang phục thời thượng là dép cao su hoặc dép nhựa Tiền phong; quần ống túm mông rộng, nam thì sơ mi bỏ ngoài quần, nữ thì cổ áo hình lá sen… như những thầy cô tăng cường ngoài Bắc vào. Đứng trên bục giảng, các thầy cô tàn dư dù kiến thức vượt trội cũng khép nép, ý tứ, nhìn trước ngó sau chứ không tự tin, thoải mái như các đồng nghiệp tăng cường. Khi tranh luận học thuật hay chuyện vu vơ giải trí, phe “tàn dư” luôn khép nép thưa với phe “tăng cường”: Dạ, xin tiếp thu ạ…

*
*    *

Năm lớp bảy, một chiều tôi đang gánh củi nặng trịch từ rừng về nhà thì gặp một chú bộ đội đeo ba lô, nói giọng Bắc hỏi đường vào trường học của xã. Tôi chưa kịp trả lời, chú bảo:

- Đưa chú gánh hộ cho.

 Nói xong chú giằng luôn gánh củi đặt lên vai đi thoăn thoắt. Bây giờ tôi nhìn kỹ mới thấy chú cụt bàn tay trái, mặt có vết sẹo dài từ mi mắt xuống cằm. Chú gánh củi cho tôi vào tận sân, xin ly nước uống rồi tiếp tục đi vào xã. Mấy hôm sau tôi mới biết chú thương binh tốt bụng đó là thầy Đức Mậu dạy Văn kiêm phó hiệu trưởng phụ trách khối cấp hai. Thầy bị thương ở mặt trận Quảng Trị năm 1972, trở về Hà Nội học cao đẳng Sư phạm, đi dạy và bây giờ vào tăng cường cho ngôi trường này. Năm lớp sáu lớp tôi học văn với cô Ánh, học kỳ một lớp bảy học với thầy Bình Nam hiệu trưởng, và bây giờ học văn với thầy Đức Mậu. Cô Ánh đẹp nhất trường, giọng Sài Gòn dễ thương, hay khóc, hờn dỗi. Cô dạy văn cứ như mẹ hát ru, êm đềm và nhiều hình tượng lãng mạn. Thầy Bình Nam dạy văn mà đanh thép như dạy chính trị. Học với thầy xong nhìn đâu cũng thấy hận thù giai cấp, lý tưởng cách mạng, nhiệm vụ của chúng ta… Thầy Đức Mậu lại khác hoàn toàn. Thầy phân tích rõ ràng, mạch lạc các bài thơ bài văn, từ đó học trò hiểu thêm về lịch sử, xã hội để tác phẩm ra đời. Phần lớn thầy cô miền Bắc đều không biết ngoại ngữ, nhưng thầy Mậu đọc được sách tiếng Pháp và biết cả tiếng Nga nên không chỉ học sinh mà cả giáo viên tàn dư cũng nể. Thầy trong Ban giám hiệu, nhưng không trịch thượng như thầy Bình Nam mà cởi mở, sốt sắng, ngay thẳng. Có lần thầy Bình Nam thấy cô Ánh sau giờ lao động rửa tay trước cửa nhà tập thể giáo viên rất kỹ bằng xà phòng thơm phức mang từ Sài Gòn lên, đã nhăn mặt lắc đầu, cất giọng mỉa mai với mấy giáo viên đồng hương đứng gần:

- Đúng là con nhà tư bản, đúng là tàn dư Mỹ ngụy.

Thầy Đức Mậu chỉnh thầy Nam:

- Chuyện riêng tư của phụ nữ anh quan tâm làm gì.

Thầy Bình Nam đỏ mặt, quát lại:

- Cậu muốn tập thể giáo viên này bị tha hóa thành tiểu tư sản hết à? Cậu là đảng viên mà lập trường như thế ư?

Thầy Đức Mậu nhìn thầy Bình Nam chằm chằm rồi nghiêm mặt nhắc nhở lại:

- Chúng ta chiến đấu hy sinh là để mang lại tự do cho người dân miền Nam chứ không phải Bắc hóa họ. Chúng ta tăng cường hỗ trợ chứ không phải cai trị họ. Tôi thấy anh cứ mở mồm là miệt thị các đồng nghiệp miền Nam. Họ có định được cửa sinh cho mình đâu, họ cũng là nạn nhân của chiến tranh như chúng ta kia mà.

Giọng thầy Đức Mậu sang sảng, chúng tôi cuốc đất làm vườn rau giáo viên gần đó nghe rõ từng lời. Sau này tôi mới biết thầy Mậu đang là sinh viên khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, được tổng động viên vào mặt trận Quảng Trị.

(Số sau đăng hết)