“Người bản số” lan tỏa kỹ năng số từ cộng đồng
Từ thanh toán không dùng tiền mặt, sử dụng dịch vụ công trực tuyến đến tìm kiếm thông tin phục vụ sản xuất, kinh doanh… những tiện ích số đang dần trở nên quen thuộc với người dân Lào Cai; để công nghệ thực sự đi vào đời sống, tỉnh đang xây dựng lực lượng “Người bản số” ngay tại cơ sở - những người học trước, làm trước rồi hướng dẫn lại bà con. Với cách “người trong bản hướng dẫn người trong bản”, mô hình đang góp phần đưa “Bình dân học vụ số” đến gần hơn với từng người dân.
Người trong bản hướng dẫn người trong bản
Ở thôn Vàn 1 (xã Phúc Lợi), những thao tác trên điện thoại thông minh từng khiến không ít người dân lúng túng, nhất là người lớn tuổi; ông Phùng Văn Tuấn kể: chúng tôi cũng lớn tuổi rồi, trước khi được chính quyền địa phương hướng dẫn thì gần như ai cũng không biết sử dụng hết. Từ những việc gần gũi trong cuộc sống hàng ngày, bà con từng bước làm quen, thực hành ngay trên điện thoại của mình. Thao tác nào chưa thành thạo thì làm lại, người biết trước chỉ cho người chưa biết.

Cùng với hướng dẫn người dân, thôn Vàn 1 cũng chú trọng chuẩn bị lực lượng nòng cốt. Trưởng thôn Hoàng Văn Huân cho biết, thôn đã lựa chọn nhân sự, tổ chức các buổi làm việc, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm để những người tham gia có thêm kỹ năng cần thiết trước khi hỗ trợ bà con. Cũng ở xã Phúc Lợi, anh Thiều Văn Chiến (thôn 3 Túc) chia sẻ: chúng tôi mua hàng bằng hình thức chuyển khoản, rất tiện lợi.
Những thay đổi ở Phúc Lợi cho thấy, điện thoại thông minh, kết nối Internet hay các nền tảng số mới chỉ là điều kiện ban đầu. Để những tiện ích ấy trở thành công cụ quen thuộc trong cuộc sống, nhất là với người ít có điều kiện tiếp xúc với công nghệ, vẫn cần người chỉ dẫn khi chưa biết, hỗ trợ khi gặp vướng mắc.
Mô hình “Người bản số” được xây dựng từ nhu cầu đó. Lực lượng nòng cốt được lựa chọn ngay tại thôn, bản, tổ dân phố; không chỉ có khả năng sử dụng công nghệ mà còn cần uy tín, tinh thần trách nhiệm, am hiểu địa bàn, văn hóa. Những người từng tham gia Tổ công nghệ số cộng đồng hoặc thành thạo tiếng dân tộc thiểu số như Tày, Mông, Dao, Pa Dí… được ưu tiên.
Lợi thế của mô hình bắt đầu từ chính sự gần gũi ấy. Với nhiều người dân vùng cao, kỹ năng số trước hết hiện diện trong những việc cụ thể: thực hiện một thủ tục trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, tìm kiếm thông tin phục vụ sản xuất hay nhận diện nguy cơ lừa đảo trên Internet. Những thao tác ấy sẽ dễ tiếp nhận hơn khi người chỉ dẫn là người cùng địa bàn, hiểu phong tục, ngôn ngữ và có thể giúp bà con tháo gỡ vướng mắc ngay trong quá trình sử dụng.
Bởi vậy, việc học không kết thúc khi một lớp tập huấn khép lại. Một người biết làm có thể chỉ lại cho người khác; kiến thức sau khi được thực hành có thể tiếp tục được truyền trong gia đình, thôn, bản. Cách học từ những việc cụ thể, rồi truyền lại cho những người xung quanh cũng chính là nét riêng của “Người bản số”.
Hạt nhân của “Bình dân học vụ số”
Từ những hạt nhân ở cơ sở, lực lượng “Người bản số” đang từng bước được mở rộng. Tính đến cuối tháng 6/2026, 32 xã, phường đã hoàn thành quy trình tuyển chọn 1.200 nhân sự chính thức và 580 nhân sự dự bị. Giai đoạn 2026 - 2028, Lào Cai phấn đấu đào tạo khoảng 3.000 “Người bản số”.

Cùng với mở rộng lực lượng, yêu cầu đặt ra là kiến thức sau đào tạo phải được chuyển thành những kỹ năng có thể áp dụng trong cuộc sống. Nội dung phổ cập vì thế tập trung vào những việc thiết thực: sử dụng thiết bị thông minh, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt; khai thác thông tin trên Internet; nhận diện nguy cơ lừa đảo, bảo vệ thông tin cá nhân và từng bước ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kinh doanh.
Tùy từng nhóm đối tượng, cách tiếp cận cũng được điều chỉnh cho phù hợp. Với người cao tuổi, có thể bắt đầu từ những chức năng thiết yếu trên điện thoại; với người cần giải quyết thủ tục hành chính là cách sử dụng dịch vụ công trực tuyến; còn với hộ sản xuất, kinh doanh là thanh toán điện tử, quảng bá sản phẩm, tiếp cận thị trường...
Cách làm ấy cũng được cụ thể hóa theo từng địa bàn. Đơn cử, tại Trấn Yên, Hội Liên hiệp phụ nữ xã lựa chọn các chi hội làm điểm bắt đầu. Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ xã Vũ Thị Nhung cho biết, Hội tập trung tuyên truyền để hội viên hiểu nội dung, nhiệm vụ, xác định những phần việc có thể tham gia; đồng thời xây dựng mô hình “chi hội phụ nữ số” gắn với nhiệm vụ tại địa phương.
Hay như ở Gia Phú, nội dung hỗ trợ được mở rộng từ sử dụng công nghệ an toàn đến phục vụ sinh kế. Theo kế hoạch của xã, “Người bản số” sẽ giúp bà con tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, nhận diện các hình thức lừa đảo trên không gian mạng, bảo vệ thông tin cá nhân; đồng thời hỗ trợ nông dân đưa sản phẩm OCOP, nông sản tiêu biểu lên môi trường thương mại điện tử, từ tạo tài khoản, giới thiệu sản phẩm đến quản lý đơn hàng... Đến năm 2028, Gia Phú đặt mục tiêu xây dựng mạng lưới 42 “Người bản số”, phủ khắp các thôn; tối thiểu 70% hộ gia đình, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, được tiếp cận, hỗ trợ. Việc triển khai cũng được thiết kế theo đặc thù địa bàn: tổ chức theo nhóm ở nơi đông dân, tiếp cận từng hộ tại khu vực dân cư thưa.
Trên phạm vi toàn tỉnh, mục tiêu đến năm 2028 là tối thiểu 70% hộ gia đình tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được tiếp cận và hướng dẫn kỹ năng số. Những con số phản ánh độ phủ, còn hiệu quả thực chất của mô hình nằm ở khả năng người dân vận dụng những gì đã học vào cuộc sống.
Từ chỗ còn lúng túng đến có thể tự thực hiện, từ một người biết đến thêm những người được chỉ lại, kỹ năng số từng bước được tích luỹ và lan truyền. Đó cũng là điểm gặp gỡ giữa “Người bản số” và tinh thần “Bình dân học vụ số”: học để làm được, làm được rồi chỉ lại cho người khác. Khi việc học được tiếp nối ngay trong thôn, bản, những kỹ năng mới dần trở thành thói quen hàng ngày, để tri thức số không chỉ được phổ cập mà còn được chính người dân sử dụng và trao truyền.

