Luật - Những điểm mới: Hoàn thiện cơ chế theo dõi, đôn đốc thực hiện kết luận nội dung tố cáo
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo đã hoàn thiện cơ chế theo dõi, đôn đốc thực hiện kết luận nội dung tố cáo, quy định chấm dứt bảo vệ khi người được bảo vệ cố ý không thực hiện nghĩa vụ đã quy định.
Bổ sung quy định về tiếp công dân trực tuyến
Giới thiệu những điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Tiến Đạt nêu rõ, việc sửa đổi, bổ sung Luật nhằm góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Luật yêu cầu người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nêu rõ họ tên, địa chỉ, số căn cước hoặc giấy chứng nhận căn cước hoặc số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu; trường hợp được người khiếu nại ủy quyền thì phải có văn bản ủy quyền hợp pháp; có đơn hoặc trình bày rõ ràng nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc tiếp nhận, thụ lý vụ việc.

Luật cũng bổ sung quy định về tiếp công dân trực tuyến; quy định rõ hơn trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp xã, cấp tỉnh và các cơ quan quản lý nhà nước về tổ chức thanh tra trong tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Theo quy định của luật, Chủ tịch UBND cấp xã trực tiếp phụ trách công tác tiếp công dân ở cấp xã và thực hiện các nhiệm vụ, như ban hành nội quy, quy chế tiếp công dân; bố trí địa điểm thuận lợi và các điều kiện cần thiết khác cho việc tiếp công dân ở cấp xã. Chủ tịch UBND cấp xã trực tiếp tiếp công dân tại địa điểm tiếp công dân ít nhất 2 ngày trong một tháng và thực hiện việc tiếp công dân đột xuất trong các trường hợp quy định tại khoản 3, Điều 18 của Luật này.
Chủ tịch UBND cấp xã phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan tiếp công dân và xử lý vụ việc nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung; bảo đảm an toàn, trật tự cho hoạt động tiếp công dân; báo cáo công tác tiếp công dân định kỳ và đột xuất với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Chủ tịch UBND cấp xã giao đơn vị phù hợp thực hiện các nhiệm vụ: Tham mưu việc tiếp công dân định kỳ, đột xuất; tham mưu phân công công chức thực hiện việc tiếp công dân thường xuyên tại địa điểm tiếp công dân cấp xã; giải thích, hướng dẫn công dân thực hiện việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đúng trình tự, thủ tục, đúng cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền giải quyết; yêu cầu công dân chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo đã được cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền giải quyết đúng chính sách, pháp luật.
Chủ tịch UBND cấp xã giao đơn vị phù hợp tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND cấp xã; tổng hợp tình hình, kết quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn thuộc phạm vi trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp xã.
Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Luật cũng bổ sung nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo trong các trường hợp chưa được luật điều chỉnh.
Quy định về ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ cho Tổng Thanh tra Chính phủ trong việc giải quyết tố cáo; hoàn thiện cơ chế theo dõi, đôn đốc thực hiện kết luận nội dung tố cáo; quy định chấm dứt bảo vệ khi người được bảo vệ cố ý không thực hiện nghĩa vụ đã quy định.
Sửa đổi, hoàn thiện quy định về chủ thể thực hiện quyền khiếu nại và nhiều quy định nhằm làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể có liên quan đến công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; bảo đảm thống nhất với Luật Tổ chức chính quyền địa phương và pháp luật có liên quan.
Nhà nước có chính sách bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, nhân lực đối với hoạt động tiếp công dân; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo để phục vụ công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Luật cho phép tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại; rút một phần nội dung khiếu nại; cho phép tiếp tục giải quyết khi người khiếu nại không dự đối thoại.
Theo đó, người khiếu nại có thể rút toàn bộ nội dung khiếu nại hoặc một phần nội dung khiếu nại tại bất cứ thời điểm nào trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại. Việc rút khiếu nại được thực hiện bằng đơn rút khiếu nại hoặc biên bản ghi nhận ý kiến rút khiếu nại của người khiếu nại khi làm việc với người giải quyết khiếu nại hoặc người xác minh nội dung khiếu nại. Đơn rút khiếu nại, biên bản ghi nhận ý kiến rút khiếu nại phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại và gửi đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
Trường hợp người khiếu nại rút một phần nội dung khiếu nại thì nội dung khiếu nại còn lại được tiếp tục giải quyết theo quy định; trường hợp người khiếu nại rút toàn bộ nội dung khiếu nại thì thực hiện theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 11a của luật này.
Nội dung khiếu nại đã rút sẽ không được xem xét, giải quyết lại, trừ trường hợp có căn cứ xác định người khiếu nại rút khiếu nại là do bị ép buộc, đe dọa.
Luật nêu rõ, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại trong các trường hợp: Do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thể tiếp tục tham gia quá trình giải quyết khiếu nại; cần chờ kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về vấn đề có liên quan trực tiếp đến nội dung khiếu nại.
Cùng với đó, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đình chỉ giải quyết khiếu nại trong các trường hợp: Người khiếu nại rút toàn bộ khiếu nại; cá nhân khiếu nại chết mà quyền, lợi ích liên quan đến nội dung khiếu nại không được thừa kế; cơ quan, tổ chức khiếu nại giải thể, phá sản hoặc kết thúc hoạt động mà quyền, nghĩa vụ liên quan đến nội dung khiếu nại không được kế thừa; vụ việc khiếu nại không còn đối tượng hoặc nội dung để giải quyết; vụ việc đã được Tòa án thụ lý hoặc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án.
Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại phải nêu rõ lý do, căn cứ pháp luật và gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Khi căn cứ tạm đình chỉ không còn thì người giải quyết khiếu nại tiếp tục giải quyết khiếu nại và thông báo cho các bên có liên quan; thời gian tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại không được tính vào thời hạn giải quyết khiếu nại.
Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.

