Kết quả thực tế - thước đo năng lực quản lý, điều hành
Trong giai đoạn phát triển mới, đặt ra yêu cầu công tác lãnh đạo, quản lý cũng như trong tổ chức thực thi phải có sự đổi mới thực chất. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, giá trị và sức sống của các quyết sách phải được đo bằng kết quả thực tế. Mục tiêu, tiến độ, sản phẩm và kết quả thực hiện phải được công khai, minh bạch để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân theo dõi, giám sát, phản ánh, kiến nghị.
Một quyết sách chỉ thực sự có sức sống khi tạo được chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Thực tiễn là "thước đo khách quan nhất" của mọi chủ trương, quyết sách. Từ những ưu việt của chính sách trên văn bản đến kết quả thực hiện chính sách là một quá trình đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của các cấp, các ngành, các địa phương, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu.
Quyết sách phải được đo bằng kết quả thực tế phản ánh tư duy quản trị hiện đại, lấy hiệu quả đầu ra và tác động xã hội làm tiêu chí đánh giá ngược lại các chính sách đã ban hành. Ở một khía cạnh khác, kết quả thực tế cũng phản ánh năng lực của cán bộ quản lý, điều hành trong việc triển khai các chính sách đến với cơ sở, với người dân như thế nào.
Thực tế cho thấy, thời gian qua nhiều cơ chế, chính sách được ban hành kịp thời nhưng đôi khi chưa thực sự phát huy hiệu quả trên thực tế, thậm chí có sự chênh lệch trong kết quả triển khai thực hiện. Câu chuyện về giải ngân vốn đầu tư công là một ví dụ điển hình. Cùng một cơ chế, chính sách nhưng có nơi thực hiện tỷ lệ giải ngân cao, nhờ đó nhiều dự án đưa vào khai thác kịp thời, góp phần khơi thông nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội. Ngược lại, có địa phương, bộ, ngành tỷ lệ giải ngân thấp, dẫn đến dự án chậm đưa vào sử dụng, gây lãng phí nguồn lực. Hay cùng hệ thống pháp luật, quy định về các trình tự thủ tục, nhưng có nơi thủ tục hành chính luôn được xử lý nhanh, gọn, hiệu quả, người dân và doanh nghiệp không phải chạy đi chạy lại nhiều lần, nhưng có nơi lại bị vướng dẫn đến việc người dân, doanh nghiệp phải gánh thêm chi phí tuân thủ. Một trong những lý do là có cán bộ có năng lực nhưng còn e ngại sáng tạo vì lo rủi ro trong quá trình thực hiện. Bên cạnh đó, do việc đánh giá cán bộ của chúng ta vẫn còn chung chung, kết quả thực thi không gắn với tiến độ sản phẩm cụ thể, do đó vẫn còn tâm lý làm cũng được, không làm cũng chẳng sao. Đây là điểm nghẽn rất lớn dẫn đến một số cơ chế, chính sách dù hay vẫn bị chậm đi vào cuộc sống.
Để thực thi không còn là khâu yếu, chúng ta buộc phải đổi mới trong công tác đánh giá cán bộ. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặc biệt nhấn mạnh, “phải kiểm đếm điểm nghẽn đã được tháo gỡ, nguồn lực đã được khơi thông, đời sống nhân dân đã chuyển biến thế nào. Kết quả thực hiện phải là căn cứ quan trọng nhất để đánh giá cán bộ, nhất là người đứng đầu; biểu dương nơi làm tốt, bảo vệ người dám đổi mới; đồng thời xử lý nghiêm tình trạng né tránh, đùn đẩy, làm chậm, làm hình thức”.
Để bảo đảm khách quan, tránh cảm tính trong đánh giá cán bộ, đòi hỏi việc đánh giá trên cơ sở “dữ liệu, sản phẩm và kết quả thực tế”. Trên cơ sở dữ liệu chúng ta sẽ thấy được cán bộ đã hoàn thành nhiệm vụ đến đâu thông qua chỉ số như: thời gian giải quyết hồ sơ, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến, mức độ hài lòng của người dân, tỷ lệ giải quyết kiến nghị, tốc độ giải ngân đầu tư công... Tất cả thông số này đều có thể được lượng hóa và theo dõi theo thời gian thực. Kết quả trên hệ thống dữ liệu sẽ là câu trả lời khách quan nhất, căn cứ quan trọng tin cậy để đánh giá cán bộ không bị “nhầm” người.
Bên cạnh đó, cần công khai, minh bạch tiến độ, sản phẩm và kết quả thực hiện. Nếu mục tiêu được công khai, người dân biết cơ quan nhà nước đã cam kết điều gì, nếu tiến độ được cập nhật thường xuyên, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân theo dõi, giám sát việc thực hiện của cơ quan, người đứng đầu có đúng kế hoạch hay không. Khi sản phẩm được công bố rõ ràng, mọi người có cơ sở đánh giá chất lượng đầu ra. Khi kết quả cuối cùng được đối chiếu với mục tiêu ban đầu, thì trách nhiệm giải trình không còn mang tính hình thức mà trở thành một yêu cầu bắt buộc. Nơi nào làm tốt thì được biểu dương, nhân rộng kịp thời, nơi nào làm chưa tốt thì chấn chỉnh, tháo gỡ, xử lý kịp thời.
Khi điểm nghẽn được tháo gỡ, năng lực mới được tạo lập, bộ máy vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, năng suất và sức cạnh tranh được nâng cao, đất nước an toàn hơn, nhân dân được thụ hưởng thiết thực hơn”, đây là thước đo chính xác nhất về năng lực quản lý, điều hành đối với người đứng đầu, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

