Xây dựng Vĩnh Phúc trở thành một trong những tỉnh giàu có, phồn thịnh nhất miền Bắc như căn dặn của Bác
Vĩnh Phúc là tỉnh có cả đồng bằng, trung du và miền núi; gần sân bay Quốc tế Nội Bài, có đường sắt Hà Nội - Lào Cai, Quốc lộ 2 và đường sông chạy qua rất thuận lợi cho việc chu chuyển hàng hoá giữa các tỉnh phía Bắc với Thủ đô Hà Nội. Vĩnh Phúc cũng nằm cận kề vùng tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh nên có điều kiện để phát triển kinh tế đa dạng. Vì vậy, Vĩnh Phúc được Chính phủ xác định là vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ.
Là một tỉnh đất chật, người đông, diện tích chỉ hơn 1.231km2, dân số 1,020 triệu người gồm 9 đơn vị hành chính là thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên; 7 huyện là Lập Thạch, Bình Xuyên, Tam Dương, Tam Đảo, Sông Lô, Vĩnh Tường và Yên Lạc với 137 xã, phường, thị trấn; trong đó thành phố Vĩnh Yên là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của tỉnh.
Vĩnh Phúc có tiềm năng kinh tế đa dạng, nhất là đối với công nghiệp, dịch vụ; là nơi chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng: phía Bắc của tỉnh là vùng núi, có diện tích tự nhiên 65.300ha; có 3 đỉnh núi (Phú Nghĩa, Thạch Bàn, Thiên Thi) bồng bềnh giữa biển mây – đó là Tam Đảo, một địa danh du lịch nổi tiếng. Tiếp đến là vùng trung du có diện tích tự nhiên khoảng 24.900ha, thích hợp cho việc thiết lập các khu công nghiệp và trồng cây công nghiệp, cây ăn quả; phía Nam là vùng đồng bằng màu mỡ, có diện tích 32.800ha, đã hình thành vùng chuyên canh cây lúa, hoa, rau, quả có năng suất, chất lượng cao…
Tiềm năng về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của Vĩnh Phúc cũng khá lớn với quần thể danh lam, thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng như Khu nghỉ mát Tam Đảo, thác Bản Long, hồ Đại Lải, hồ Làng Hà, hồ Vân Trục, Đầm Vạc, đầm Dưng, Thanh Lanh... Nhiều lễ hội dân gian đậm đà bản sắc dân tộc như Hội vật Tây Thiên, chọi trâu Hải Lựu, Kéo song Hương Canh... và rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa mang đậm dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh như danh thắng Tây Thiên, Thiền viện Trúc Lâm, Tháp Bình Sơn, Đền thờ Trần Nguyên Hãn, Di chỉ Đồng Đậu...
Ngoài ra, Vĩnh Phúc còn có nguồn lao động khá dồi dào, chiếm khoảng 67,8% tổng dân số, trong đó chủ yếu là lao động trẻ, có kiến thức văn hóa và tinh thần sáng tạo để tiếp thu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ trong những năm qua, đặc biệt là công nghiệp, đã tạo ra sự chuyển dịch tích cực về cơ cấu lao động trong công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp.
Do vị trí địa lý thuận lợi trong những năm qua, nhất là từ khi Vĩnh Phúc được tái lập trở lại (1.1.1997) nền kinh tế của tỉnh có bước phát triển nhanh. Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm trong thời kỳ 1998 - 2000 đạt 18,12%. Giai đoạn 2001 - 2005 tăng trưởng GDP đạt 15,02%. Đặc biệt, giai đoạn 2005 -2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 15,8%, trong đó, công nghiệp - xây dựng tăng 18,6%, dịch vụ tăng 17,5%, nông - lâm nghiệp - thủy sản tăng 4,1%. Cơ cấu chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp - thủy sản. Uớc năm 2010, giá trị công nghiệp - xây dựng chiếm 58,3%, dịch vụ chiếm 28,4%, nông - lâm nghiệp - thủy sản 13,3%.
Lĩnh vực nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân luôn được quan tâm. Tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế chính sách nhằm phát tiển lĩnh vực này như miễn thủy lợi phí, hỗ trợ giáo dục mầm non, bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho nông dân, hỗ trợ vùng trồng trọt và xây dựng khu sản xuất tập trung, đầu tư kiên cố hóa kênh mương, cấp đất dịch vụ, hỗ trợ thu nhập cho nông dân... với tổng kinh phí đầu tư từ ngân sách khoảng 1.000 tỷ đồng, đã góp phần tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.
Lĩnh vực công nghiệp được xác định là nền tảng của nền kinh tế (giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 21,1%/năm), nhiều khu cụm công nghiệp được hình thành và đi vào sản xuất như khu công nghiệp Khai Quang, Bình Xuyên, Chấn Hưng. Một số ngành sản xuất công nghiệp chủ lực có lợi thế cạnh tranh cao như ô tô, xe máy, gạch ốp lát; tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống được khôi phục, phát triển. Kim ngạch xuất khẩu năm 2010 dự kiến đạt 500 triệu USD, trong đó khu vực FDI đạt 415 triệu USD. Thu hút đầu tư dạt khá, đến hết năm 2010 trên địa bàn có 512 dự án trong đó 123 dự án FDI với số vốn đăng ký khoảng 2,3 tỷ USD, 389 dự án DDI với số vốn đăng ký khoảng 25.200 tỷ đồng đến nay đã có 175 dự án đi vào sản xuất.
Lĩnh vực dịch vụ phát triển mạnh đã hình thành nhiều loại hình dịch vụ chất lượng cao, từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất và phục vụ đời sống. Doanh thu du lịch tăng bình quân 15,8%, mật độ máy điện thoại đạt 84,5 máy/100 dân.
Về thu ngân sách, dự kiến năm 2010 đạt 10.200 tỷ đồng; GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 29,5%, tương đương 1.620USD.
Các lĩnh vực văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ tiếp tục được phát triển. Giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển ổn định, vững chắc. Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học được quan tâm đầu tư, chất lượng giáo dục được nâng lên rõ rệt, đội ngũ giáo viên được đào tạo theo hướng chuẩn hóa, phương pháp dạy và học không ngừng được đổi mới. Đến nay, tỷ lệ kiên cố ở bậc học phổ thông đạt 95%, bậc học mầm non 50%, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được học mầm non đạt 99%, tỉnh đã đạt phổ cập mẫu giáo 5 tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS lên học THPT, bổ túc THPT có học nghề đạt trên 94%. Số học sinh trúng tuyển vào các trường CĐ, ĐH đạt tỷ lệ 286 sinh viên/1 vạn dân. 10 năm liên tục Vĩnh Phúc có học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế và khu vực.
Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học vào đời sống xã hội được coi trọng, nhiều đề tài khoa học được nghiên cứu, ứng dụng có hiệu quả. Văn hóa, thể thao, thông tin, truyền thông có bước phát triển mới góp phần nâng cao đời sống tinh thần và chất lượng cuộc sống cho nhân dân. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tiếp tục được phát triển sâu rộng, mục tiêu đến năm 2010 toàn tỉnh có 82% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, 60% làng (thôn, khu phố) văn hóa. 1.122 nhà văn hóa thôn, khu phố, 117 nhà văn hóa xã (phường); 100% xã, phường, thị trấn có bưu điện văn hóa, 1 nhà thi đấu đa năng. Hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh truyền hình, văn học nghệ thuật chất lưọng được nâng lên, góp phần tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân và định hướng dư luận xã hội, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện kế hoạch hóa gia đình đạt nhiều kết quả. Đến nay tỷ lệ giường bệnh/1 vạn dân đạt 23 giường, 7 bác sỹ/1 vạn dân, 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế, 100% số trạm y tế xã, phường có bác sỹ và nữ hộ sinh, 100% thôn bản có cán bộ y tế, tỷ lệ trẻ em dưới 4 tuổi suy dinh dưỡng còn 15%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 95%0.
Các phong trào đề ơn đáp nghĩa đối với người có công, các đối tượng chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội được quan tâm. Đến nay toàn tỉnh đã xóa nhà tranh tre dột nát đối với hộ gia đình chính sách. Đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động thường xuyên được quan tâm, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 51%, mỗi năm giải quyết việc làm được 19-20 ngàn lao động, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 7%.
Năm 2010 là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010. Đây là năm có nhiều thuận lợi và cơ hội nhưng cũng có không ít khó khăn, thách thức đòi hỏi sự tập trung cao độ của cả hệ thống chính trị, các doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Phát huy truyền thống 60 năm xây dựng và phát triển, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Vĩnh Phúc sẽ quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, xây dựng quê hương Vĩnh Phúc trở thành một trong những tỉnh giàu có, phồn thịnh nhất miền Bắc như lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu khi Người về thăm.

