"Vườn ươm" doanh nghiệp, tập đoàn lớn
Theo số liệu thống kê, các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp, hoạt động ở hầu hết các địa phương, các ngành, lĩnh vực, tạo việc làm, thu nhập và sinh kế cho gần 6,5 triệu người lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội.
Với quy mô gọn, bộ máy linh hoạt, khả năng phản ứng nhanh trước biến động của thị trường, doanh nghiệp nhỏ và vừa là lực lượng có sức thích ứng cao, tạo nên độ lan tỏa rộng của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, như ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, cần thẳng thắn nhìn nhận doanh nghiệp nhỏ và vừa đông nhưng chưa mạnh; năng động nhưng năng lực quản trị, tài chính, chất lượng nguồn nhân lực và sức chống chịu còn hạn chế.
Số doanh nghiệp làm chủ công nghệ, tham gia sâu vào chuỗi giá trị và vươn ra thị trường quốc tế còn ít. Liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, viện nghiên cứu, trường đại học và chính giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn chưa chặt chẽ. Tỷ lệ tham gia các khâu có giá trị gia tăng cao còn thấp. Môi trường đầu tư kinh doanh, thủ tục hành chính và thực thi chính sách ở một số nơi vẫn còn điểm nghẽn đối với sự phát triển và hoạt động của các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp nhỏ và vừa…
Thực tế này là không thể phủ nhận dù thời gian qua, các chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước ngày càng đầy đủ, đồng bộ, góp phần kiến tạo không gian phát triển mới cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cụ thể, các Nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo hệ thống định hướng chiến lược đồng bộ, đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, Quốc hội cũng đã từng bước thể chế hóa các chủ trương qua hệ thống pháp luật về đầu tư, đất đai, thuế, tín dụng, khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh… Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các nghị định, chương trình, kế hoạch và thường xuyên tổ chức đối thoại với doanh nghiệp để đưa chủ trương, pháp luật vào thực tiễn.
Dù vậy, như ý kiến của nhiều chuyên gia thì khoảng cách giữa chính sách và thực thi vẫn có những điểm nghẽn nhất định, nhất là trong việc tiếp cận các chính sách, thông tin tư vấn pháp luật. Ví dụ như về môi trường thể chế, hạ tầng số hiện nay chưa đầy đủ; chính sách pháp luật còn phân tán, chưa tập trung, chưa phân tích đồng bộ, thiếu tính hệ thống và nặng về tư duy quản lý. Trong tổ chức thực thi còn nhiều đầu mối, đa tầng, thiếu thông tin, dữ liệu; thiếu cơ quan điều phối thống nhất.
Mặt khác, các chính sách hỗ trợ còn rải rác ở nhiều lĩnh vực như thuế, tín dụng, công nghệ, thương mại nhưng lại thiếu cơ chế tích hợp, liên thông các lĩnh vực khiến doanh nghiệp khó hiểu, khó thực thi. Các tiêu chí xây dựng pháp luật còn nặng về quản lý, kiểm soát hơn là tạo điều kiện thúc đẩy, phục vụ và thiếu tính ổn định, chính sách ban hành nhanh nhưng thay đổi cũng nhanh... khiến doanh nghiệp rất lúng túng.
Do đó, để khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa trở thành "vườn ươm" để hình thành các doanh nghiệp, tập đoàn lớn cho đất nước và nhất là trong thực hiện 2 mục tiêu chiến lược của đất nước đến năm 2030 và 2045, như ý kiến của Thủ tướng Lê Minh Hưng, khu vực kinh tế tư nhân cần phát triển lớn hơn về quy mô, cao hơn về năng suất, mạnh hơn về công nghệ, tham gia sâu hơn trong chuỗi giá trị, đáp ứng tốt hơn cho thị trường trong nước và vươn xa hơn trên thị trường khu vực, quốc tế. Doanh nghiệp nhỏ và vừa phải trở thành nền tảng vững chắc, là nguồn bổ sung liên tục cho doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn.
Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế, cải thiện thực chất hơn nữa môi trường đầu tư kinh doanh. Rà soát, loại bỏ các quy định chồng chéo, không cần thiết. Cắt giảm, đơn giản hóa quy trình, thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và giảm thực chất chi phí, thời gian tuân thủ của doanh nghiệp. Đặc biệt, các chính sách phải ổn định, dễ hiểu, dễ thực hiện; kỷ luật, kỷ cương thực thi phải nghiêm; kiên quyết xử lý tình trạng nhũng nhiễu, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm.

