Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt phải đi cùng hiệu quả thực chất
Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, các ĐBQH đề nghị cần tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt theo hướng có trọng tâm và đo lường được hiệu quả. Bởi lẽ, thu hút được tập đoàn lớn chỉ là bước đầu; đưa doanh nghiệp Việt Nam thực sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu mới tạo ra lợi ích lan tỏa lâu dài.
.jpg)
Ưu đãi phải gắn với chất lượng và cam kết của nhà đầu tư
Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt tại Điều 17 là một trong những nội dung được nhiều đại biểu quan tâm. Tiếp thu bước đầu ý kiến của các đại biểu tại phiên thảo luận tổ, dự thảo Luật đã giới hạn đối tượng hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt ở các dự án đáp ứng yêu cầu về quy mô vốn, thời hạn giải ngân và thuộc những lĩnh vực như công nghệ cao, công nghệ chiến lược, đổi mới sáng tạo, bán dẫn, trung tâm dữ liệu, logistics quốc tế, dự trữ năng lượng.
Đáng chú ý, dự thảo cũng quy định ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt được áp dụng có thời hạn, gắn với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư và chế độ báo cáo định kỳ. Trường hợp nhà đầu tư không thực hiện đầy đủ cam kết, cơ quan có thẩm quyền được thu hồi ưu đãi, hỗ trợ. Đồng thời, hiệu quả hoạt động đầu tư được đánh giá trên cơ sở hiệu quả thực chất, giá trị gia tăng và tác động lan tỏa.
Ghi nhận hướng chỉnh lý này, song ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng) cho rằng, dự thảo vẫn cần hoàn thiện tiêu chí xác định đối tượng được hưởng ưu đãi. Theo đại biểu, quy mô vốn và thời hạn giải ngân là những điều kiện cần thiết nhưng chưa phản ánh đầy đủ chất lượng dự án.

Một dự án có vốn lớn nhưng chủ yếu dựa vào đất đai, năng lượng và lao động giá rẻ chưa chắc đóng góp nhiều hơn dự án có quy mô vốn vừa phải nhưng sở hữu công nghệ lõi, hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp. Đặc biệt, với những lĩnh vực như thiết kế chip, phần mềm, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu và phát triển, tài sản chủ yếu là tri thức nên rất khó đạt ngưỡng vốn nếu chỉ tính theo tài sản cố định.
Từ đó, đại biểu đề nghị quy định nguyên tắc đánh giá quy mô vốn phải kết hợp với trình độ công nghệ, giá trị gia tăng trong nước, hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng và mức độ liên kết của dự án.
Cũng quan tâm đến vấn đề này, ĐBQH Nguyễn Văn Huy (Hưng Yên) đề nghị ràng buộc chặt chẽ hơn trách nhiệm thực hiện cam kết để được hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt. Đại biểu tán thành quy định tại khoản 4 Điều 17 về việc áp dụng ưu đãi, hỗ trợ trên cơ sở kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư trong chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh và nâng cao giá trị gia tăng trong nước.
Tuy nhiên, dự thảo chưa làm rõ mức độ thực hiện cam kết như thế nào được coi là đạt yêu cầu; trường hợp chỉ hoàn thành một phần thì xử lý ra sao, thu hồi toàn bộ hay chỉ phần ưu đãi tương ứng với nghĩa vụ chưa thực hiện. Theo đại biểu, một dự án công nghệ cao có thể được ưu đãi lớn nhưng không đạt cam kết về đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung cấp trong nước. Nếu chỉ căn cứ vốn giải ngân và sản lượng, dự án vẫn có thể được đánh giá thành công, trong khi lợi ích lan tỏa chưa đạt yêu cầu.

Do vậy, đại biểu đề nghị bổ sung quy định đánh giá theo từng cam kết, mức độ hoàn thành và trách nhiệm xử lý tương ứng; giao Chính phủ quy định việc điều chỉnh, thu hồi ưu đãi phù hợp với mức độ vi phạm. Cách tiếp cận này vừa tránh cứng nhắc với nhà đầu tư, vừa không để các cam kết trở thành hình thức.
Một yêu cầu khác được đại biểu Nguyễn Văn Huy đặt ra là phải có tiêu chí cụ thể để đánh giá hiệu quả thực chất của dự án. Khoản 4a Điều 45 đã đề cập giá trị gia tăng, tính bền vững và tác động lan tỏa nhưng chưa xác định các chỉ tiêu đánh giá cụ thể.
Đại biểu đề nghị Chính phủ ban hành bộ tiêu chí theo từng ngành, lĩnh vực, trong đó chú trọng giá trị gia tăng trong nước, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, chất lượng nhân lực, liên kết doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng tài nguyên. Kết quả đánh giá phải trở thành căn cứ xem xét việc tiếp tục áp dụng hoặc điều chỉnh ưu đãi theo Điều 17.
Từ thu hút vốn đến tạo sức lan tỏa
Không chỉ dừng ở việc kiểm soát điều kiện hưởng ưu đãi, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn nhấn mạnh, thu hút được các tập đoàn lớn mới chỉ là thành công bước đầu. Thành công có ý nghĩa lâu dài là doanh nghiệp Việt Nam thực sự tham gia vào chuỗi giá trị của những tập đoàn này. Theo đại biểu, nếu chỉ thu hút được vốn, nhà xưởng và lao động, trong khi công nghệ, thiết kế, linh kiện cốt lõi và phần lớn giá trị gia tăng vẫn nằm ngoài nền kinh tế thì tác động lan tỏa sẽ rất hạn chế.

Dự thảo đã có quy định khuyến khích doanh nghiệp FDI công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hóa. Tuy nhiên, theo đại biểu, công bố thông tin mới chỉ là bước đầu, vấn đề quyết định là năng lực đáp ứng của doanh nghiệp trong nước.
Đối với cơ chế lựa chọn doanh nghiệp trong nước được hỗ trợ nâng cao năng lực, đại biểu đề nghị công khai doanh nghiệp thụ hưởng, nội dung được hỗ trợ và chi phí tương ứng. Đồng thời có sự tham gia của các hiệp hội ngành nghề, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa có tiềm năng. Điều này nhằm tránh tình trạng chính sách chỉ phục vụ một số doanh nghiệp vốn đã có quan hệ với nhà đầu tư lớn.
Một vấn đề khác là chính sách hỗ trợ chi phí tạo tài sản cố định từ lợi nhuận tái đầu tư hiện chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp FDI. Trong khi đó, doanh nghiệp trong nước cũng phải lựa chọn giữa chia lợi nhuận và tái đầu tư. Do vậy, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị áp dụng bình đẳng đối với mọi doanh nghiệp thuộc diện ưu đãi đặc biệt sử dụng lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư.
Để nâng cao năng lực của doanh nghiệp nội địa, đại biểu Nguyễn Văn Huy cho rằng dự thảo cần thể hiện rõ hơn trách nhiệm kết nối, hỗ trợ nâng cấp năng lực nhà cung cấp trong nước và đánh giá kết quả liên kết sau khi dự án đi vào hoạt động.

Thực tế có thể xảy ra tình trạng doanh nghiệp trong nước có năng lực sản xuất nhưng không tiếp cận được thông tin về nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình kiểm định hoặc kế hoạch lựa chọn nhà cung cấp của doanh nghiệp FDI. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định khuyến khích công bố nhu cầu mua sắm, hỗ trợ nâng cao năng lực nhà cung cấp nội địa và xác định kết quả liên kết thành chỉ tiêu có thể kiểm chứng.
Ở góc nhìn khác, ĐBQH Trần Kim Kha (Gia Lai) đề nghị định hướng thu hút đầu tư theo lợi thế thực tế của từng địa bàn, thay vì chủ yếu dựa vào cấp hành chính. Theo đó, cần bảo đảm các địa phương có lợi thế về năng lượng tái tạo, quỹ đất và điều kiện tự nhiên không bị hạn chế thu hút dự án công nghệ cao, công nghệ chiến lược, năng lượng tái tạo và trung tâm dữ liệu...

