Tối đa hóa giá trị phổ tần, tránh đầu tư trùng lặp hạ tầng viễn thông
Thảo luận về các nội dung sửa đổi Luật Tần số vô tuyến điện và Luật Viễn thông, nhiều đại biểu đề nghị việc hoàn thiện pháp luật không chỉ dừng ở cắt giảm thủ tục, mà phải tạo cơ chế khai thác hiệu quả tài nguyên tần số, bảo đảm phân bổ “đúng thời điểm”, thu hồi gắn với tái phân bổ minh bạch; đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ chia sẻ hạ tầng, tăng khả năng chống chịu của mạng viễn thông và chuẩn bị nền tảng cho các thế hệ công nghệ mới.

Khai thác tài nguyên tần số phải đúng thời điểm, tránh để tài nguyên bị bỏ không
Một trong những vấn đề nhận được sự quan tâm của các đại biểu tại phiên thảo luận là yêu cầu đổi mới tư duy quản lý tài nguyên tần số trong bối cảnh nhu cầu sử dụng phổ tần ngày càng lớn, trong khi công nghệ viễn thông, mạng vệ tinh và các dịch vụ số phát triển nhanh.
Là người có nhiều năm trong lĩnh vực viễn thông, ĐBQH Tào Đức Thắng (TP. Hồ Chí Minh) cho rằng, những kết quả đạt được sau khi Luật Tần số vô tuyến điện được sửa đổi năm 2022 cho thấy việc phân bổ tài nguyên tần số kịp thời có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển hạ tầng, chất lượng dịch vụ và lợi ích xã hội. Cụ thể, đối với tài nguyên tần số, vấn đề không chỉ là “đúng giá” mà còn phải “đúng thời điểm”. Giá trị của băng tần phụ thuộc vào mức độ phát triển của công nghệ, hệ sinh thái thiết bị và nhu cầu thị trường ở từng giai đoạn. Khi công nghệ đã "đủ chín", thị trường đã sẵn sàng thì việc phân bổ kịp thời sẽ phát huy hiệu quả cao nhất, ngược lại, chậm đưa vào khai thác có thể làm suy giảm giá trị kinh tế của tài nguyên.

Cùng cách tiếp cận này, đại biểu Bế Trung Anh (Đắk Lắk) đề nghị chuyển mạnh từ tư duy “cấp phát tài nguyên” sang “tối đa hóa giá trị của tài nguyên”. Theo đại biểu, với tần số, câu hỏi không nên chỉ dừng lại ở việc chủ thể nào được cấp bao nhiêu MHz, mà cần xem mỗi MHz tạo ra được bao nhiêu vùng phủ, bao nhiêu kết nối và bao nhiêu giá trị kinh tế - xã hội. Từ đó, đề nghị tiếp tục nghiên cứu các quy định của Luật Tần số vô tuyến điện để mở đường cho chia sẻ phổ tần, hoạt động thử nghiệm và sự phát triển của các mô hình kết nối mới; đồng thời pháp luật cần có tính trung lập về công nghệ, đủ rộng để thích ứng với 6G, mạng vệ tinh, mạng riêng công nghiệp và những công nghệ mới trong tương lai.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu (TP. Huế) lưu ý dự thảo cần làm rõ trình tự, thời điểm thu hồi giấy phép tần số; trách nhiệm của doanh nghiệp trong thời gian chuyển tiếp đối với người sử dụng dịch vụ, hạ tầng, thiết bị và nghĩa vụ tài chính. Đồng thời, phải có cơ chế xử lý, tái phân bổ phần tài nguyên tần số sau thu hồi để tài nguyên không bị bỏ không và có thể nhanh chóng được đưa trở lại khai thác một cách minh bạch.

Chuẩn bị nền móng cho 6G, 7G
Đại biểu Sùng A Lềnh (Lào Cai) cho biết, tại miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, nơi địa hình chia cắt, dân cư phân tán, chi phí đầu tư cột ăng-ten, nhà trạm, tuyến truyền dẫn và duy trì hoạt động rất lớn nhưng hiệu quả thương mại thấp, nếu mỗi doanh nghiệp đều đầu tư riêng một hệ thống sẽ vừa làm tăng chi phí xã hội, vừa cản trở việc nhanh chóng mở rộng vùng phủ sóng.
Từ thực tế này, đại biểu Sùng A Lềnh đề nghị xác lập ngay trong Luật Viễn thông nguyên tắc khuyến khích và tạo điều kiện sử dụng chung cơ sở hạ tầng, nhất là tại miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và những địa bàn hiệu quả đầu tư thương mại thấp. Chính phủ cần quy định cụ thể nguyên tắc xác định giá thuê, trách nhiệm đầu tư, vận hành, bảo trì, quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như cơ chế xử lý khi các doanh nghiệp không thỏa thuận được phương án chia sẻ.

Đồng quan điểm, đại biểu Thái Thị Thu Hường (Hưng Yên) chỉ rõ thực tế tại nhiều địa phương vẫn tồn tại tình trạng nhiều doanh nghiệp dựng các cột trạm thu phát sóng gần nhau, đầu tư riêng các tuyến cáp, nguồn điện và nhà trạm, làm phát sinh đầu tư trùng lặp. Trong khi dự thảo chủ yếu điều chỉnh về thẩm quyền quản lý nhưng chưa có cơ chế kinh tế đủ mạnh để thúc đẩy hoặc yêu cầu chia sẻ hạ tầng ở những khu vực đã đủ điều kiện kỹ thuật. Vì vậy, cần nghiên cứu nguyên tắc ưu tiên chia sẻ đối với công trình hạ tầng viễn thông thụ động; trường hợp không chia sẻ phải có căn cứ rõ ràng về an toàn, an ninh hoặc kỹ thuật.

Đại biểu Tào Đức Thắng kiến nghị Bộ Khoa học và Công nghệ sớm quy hoạch hạ tầng viễn thông thụ động cho tương lai khi Việt Nam tiến lên 6G, 7G. Bởi khi tần số sử dụng ngày càng cao thì yêu cầu về mật độ trạm sẽ ngày càng lớn. Vì vậy, nếu quy hoạch hạ tầng thụ động được thực hiện sớm, doanh nghiệp có thể chủ động đầu tư trước, đồng thời tạo cơ sở để nâng tỷ lệ dùng chung hạ tầng trong tương lai.
Từ các đề xuất trên có thể thấy, các đại biểu kỳ vọng việc sửa đổi luật lần này sẽ tạo ra một khung pháp lý có khả năng khai thác tối đa giá trị của tài nguyên tần số, giảm chi phí tuân thủ, dùng chung hiệu quả hạ tầng đã đầu tư và chủ động chuẩn bị cho những thế hệ công nghệ trong tương lai.

