Tiêu thức cơ bản để đánh giá hiệu quả giám sát của HĐND?
Giám sát là một trong hai chức năng cơ bản của HĐND. Luật và Quy chế hoạt động của HĐND chỉ nêu “Hiệu quả hoạt động của HĐND được bảo đảm bằng hiệu quả hoạt động của các kỳ họp HĐND, của Thường trực HĐND, UBND, các ban và các đại biểu HĐND”, chưa quy định tiêu thức đánh giá hiệu quả giám sát của các tổ chức HĐND. Do vậy, rất cần trao đổi từ thực tiễn để thống nhất về những tiêu thức cơ bản nhằm đưa ra giải pháp toàn diện nâng cao chất lượng giám sát của cơ quan dân cử địa phương.
Tìm hiểu cho thấy, hoạch định chính sách công dựa trên 2 cơ sở: một là chính trị học (chọn vấn đề cần giải quyết, đối tượng cần ưu tiên, không gian, thời gian sẽ thi hành, các ràng buộc khi thi hành, những mâu thuẫn về lợi ích giữa cá nhân, nhóm cụ thể, cách thức điều hòa và thể chế cần có để giải quyết mâu thuẫn); hai là kinh tế học (tính toán, cân nhắc các chi phí, lợi ích mang lại của chính sách, nhưng thực tiễn rất khó để đo vì phụ thuộc vào quan điểm, hệ giá trị của giai cấp cầm quyền, đặc điểm văn hóa, dân tộc)... Nên phải có phương pháp quy nạp các chi phí, lợi ích gồm kinh tế, chính trị, xã hội... ra cùng một loại đơn vị giá trị chung để đánh giá. Quy trình chính sách công gồm 4 giai đoạn: xác lập nghị trình, tức là tìm kiếm vấn đề chính sách cần giải quyết; xây dựng và ban hành chính sách; triển khai chính sách; đánh giá chính sách.
Việc đánh giá chính sách được tiến hành ngay trong quá trình xây dựng chính sách, với 3 loại: một là đánh giá chính trị (đánh giá tính khả thi về cơ chế hành chính và các mâu thuẫn về lợi ích trong triển khai chính sách); hai là đánh giá kỹ thuật (đánh giá các tác động trực tiếp, các chi phí và lợi nhuận trực tiếp của chính sách; chính sách triển khai theo đúng quy định chưa, có hiệu quả nhất chưa, các nguồn lực phân bổ cho chính sách đã thích hợp chưa, các tiêu chí định lượng đã đạt đến mức nào...?); ba là đánh giá toàn diện (chủ yếu là phân tích chi phí và lợi ích xã hội). Đánh giá này đòi hỏi phải khảo sát toàn diện, có hệ thống, khách quan và nghiêm ngặt, phải quy được giá trị của các tác động gián tiếp từ chính sách đến xã hội, môi trường, các tác động chính trị khác để so sánh chi phí và lợi nhuận. Tóm lại, đánh giá chính sách phải được thực hiện ngay từ công đoạn đầu đến công đoạn cuối của quá trình chính sách bằng 2 tiêu chí cơ bản về chính trị và kinh tế.
Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng dẫn hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định trước, bảo đảm pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh. Hoạt động giám sát của các tổ chức HĐND vừa là hướng đối tượng chịu sự giám sát thực hiện đúng mục đích, yêu cầu mà chủ trương, chính sách, nghị quyết HĐND đã ban hành; vừa là phát hiện những vấn đề bất hợp lý, chưa khả thi của cơ chế, chủ trương chính sách để đề nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế (tức là, tham gia vào một trong những công đoạn của quy trình chính sách). Mục đích giám sát của HĐND suy đến cùng là buộc cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị và công dân thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ để phục vụ nhân dân tốt nhất.
Thực tiễn ở một số tổ chức HĐND ở địa phương từ năm 2004 đến nay cho thấy: những cuộc giám sát chọn nội dung theo ý chủ quan, chưa lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, những ý kiến phản ánh mang tính phê phán, chỉ trích của cử tri; quá trình thu thập thông tin chưa phát hiện được những khó khăn, hạn chế của các cơ quan, đơn vị thực hiện nội dung cần giám sát, thì khi tổ chức giám sát chủ yếu thấy những ưu điểm, phát hiện được hạn chế để yêu cầu, kiến nghị cơ quan liên quan khắc phục rất ít. Nên kết luận giám sát nhìn chung là tốt, hậu giám sát hầu như không phải thực hiện (tức là sau giám sát không tìm được vấn đề để thúc đẩy các đối tượng liên quan cải tiến, sửa đổi, bổ sung công việc để hoạt động tốt hơn). Lại có những cuộc giám sát chọn đúng nội dung nhưng phương thức tổ chức không phù hợp, như: giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo lại thực hiện ở cấp tỉnh sau đó mới giám sát ở cấp huyện, xã nên không mang lại hiệu quả cao. Tổ chức giám sát mà các ý kiến chỉ ra không cụ thể về nội dung, địa chỉ và giải pháp khắc phục thì kết luận giám sát đưa ra chung chung, cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện kết luận cũng không sao. Có những cuộc giám sát chỉ rõ hạn chế, nguyên nhân và yêu cầu, kiến nghị cụ thể cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm khắc phục, nhưng hậu giám sát không được thực hiện tích cực, kết quả giám sát cũng không đạt mục đích, yêu cầu.
Khắc phục những hạn chế trên, có địa phương đã vận dụng sáng tạo quy định pháp luật: tổ chức khảo sát, thu thập thông tin trước khi chọn nội dung giám sát, dự kiến vấn đề giám sát để tham khảo các cơ quan, đơn vị cá nhân có kinh nghiệm liên quan đến lợi ích từ nội dung giám sát trước khi quyết định; tham mưu HĐND ban hành một số chế độ chi hoạt động giám sát, hoặc bố trí kinh phí tổ chức điều trần những vấn đề bức xúc đông đảo cử tri quan tâm nhưng chậm giải quyết; về đôn đốc việc thực hiện kết luận giám sát, Thường trực HĐND giao Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND phối hợp với Đài phát thanh truyền hình tỉnh phản ánh hoạt động giám sát và việc thực hiện kết luận giám sát trên chuyên mục tiếng nói cử tri và đại biểu dân cử để nhân dân theo dõi, giám sát, tạo dư luận xã hội tích cực để cơ quan chịu sự giám sát, cơ quan, tổ chức giám sát thực hiện đúng và kịp thời nhiệm vụ... Bước đầu đã đem lại kết quả tích cực, nhiều vấn đề phát hiện sau giám sát đã được cơ quan, tổ chức cá nhân liên quan tiếp thu thực hiện, góp phần đưa nghị quyết đi vào cuộc sống tốt hơn.
Như vậy có thể khẳng định: nội dung giám sát chọn đúng trọng tâm vào vấn đề cử tri, đại biểu, xã hội quan tâm; phương thức phù hợp với nội dung, điều kiện; thành phần thực hiện giám sát có trình độ chuyên môn, trách nhiệm, công tâm thì tổ chức giám sát phát hiện được nhiều hạn chế và đưa ra được những giải pháp khắc phục; các cuộc giám sát đưa ra kết luận cụ thể, sau giám sát các cơ quan chịu sự giám sát bước đầu đã chú ý thực hiện yêu cầu, kiến nghị; một số vấn đề bức xúc kéo dài chậm giải quyết dứt điểm sau điều trần đã làm dịu được bức xúc của nhân dân, các cơ quan liên quan đã tích cực vào cuộc khắc phục khó khăn để sớm giải quyết triệt để; hoạt động giám sát có đầu tư chí phí thì sau giám sát đem lại hiệu quả thiết thực hơn các cuộc giám sát không đầu tư chi phí. Các cuộc giám sát như vậy được nhân dân, đại biểu quan tâm đánh giá cao, bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực.
Từ cơ sở đánh giá chính sách công và thực tiễn hoạt động giám sát của các tổ chức HĐND một số nơi, việc áp dụng 3 loại đánh giá chính sách công vào đánh giá hoạt động giám sát của HĐND là rất khó, nhất là việc đánh giá toàn diện theo phương pháp quy đổi các tác động gián tiếp để phân tích chi phí và lợi ích xã hội về cùng một loại đơn vị tính. Nhưng dựa vào đánh giá chính trị và kỹ thuật theo định tính có thể rút ra 4 tiêu thức bước đầu đánh giá hiệu quả của hoạt động giám sát. Đó là: vấn đề giám sát phải thực sự gần dân (tức là, phải đem lại lợi ích cho nhân dân). Sự phản ứng nhanh nhạy của đối tượng liên quan đến vấn đề chính sách (tức là kết luận giám sát đúng, trúng, sát thực tế được cử tri, xã hội quan tâm và liên quan thực hiện hay phản ứng). Qua giám sát, bộ máy nhà nước, các cơ quan liên quan thực hiện chính sách, nghị quyết HĐND phải tinh gọn, vận hành thông suốt với biên chế ít, không chồng chéo, phức tạp (tức là phải khắc phục được những phiền hà, sách nhiễu của bộ máy, cán bộ công chức trong việc thực thi nhiệm vụ, tinh giảm, đơn giản được số cán bộ công chức thực thi nhiệm vụ...). Cơ chế, chính sách, nghị quyết của HĐND được thực hiện tốt hơn (tức là những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện được giải quyết nhanh, kịp thời. Nội dung chính sách đi vào cuộc sống nhanh hơn trước giám sát).
Để đáp ứng được các tiêu thức trên đòi hỏi các tổ chức thực thi nhiệm vụ giám sát phải chọn nội dung giám sát đúng, trúng với mong muốn của cử tri, xã hội quan tâm; phương thức giám sát phải phù hợp với nội dung, đối tượng, thời điểm giám sát; thành phần tham gia giám sát phải tinh, nhanh, trách nhiệm, có kinh nghiệm thực tiễn; hoạt động giám sát cần có kinh phí để hỗ trợ, khuyến khích thành viên tích cực phát hiện những hạn chế, khó khăn vướng mắc; nội dung kết luận giám sát phải chỉ rõ hạn chế, nguyên nhân, có địa chỉ cụ thể và giải pháp khắc phục để cơ quan, cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện; hoạt động giám sát cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan thông tin đại chúng, các tổ chức đoàn thể để thu hút nhân dân cùng tham gia. Được như vậy, hiệu quả giám sát của HĐND sẽ được nâng lên rất nhiều.

