Ý kiến đại biểu

Thước đo của hòa giải là kết thúc được một tranh chấp

Đào Cảnh 05/08/2026 13:15

Tham gia góp ý về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), ĐBQH Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa) cho rằng, lần sửa luật này phải đồng thời giữ được bản chất tự nguyện, mềm dẻo, gần dân, dựa vào uy tín cộng đồng. Hòa giải thành không chỉ được ghi nhận bằng một biên bản, mà phải giải quyết dứt điểm mâu thuẫn, hạn chế tranh chấp tái diễn và giữ gìn các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ, làng xóm.

Không “chuyên nghiệp hóa” một thiết chế dựa vào uy tín cộng đồng

ĐBQH Bùi Văn Dũng đánh giá cao sự chuẩn bị của Ban soạn thảo và các ý kiến thẩm tra dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) của Ủy ban Văn hóa và Xã hội. Đại biểu cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi Luật; sự phù hợp của dự thảo với chủ trương, đường lối của Đảng; phạm vi điều chỉnh; tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật và tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan.

ĐBQH Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa) phát biểu thảo luận. Ảnh: Lâm Hiển
ĐBQH Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa) phát biểu thảo luận. Ảnh: Lâm Hiển

Theo đại biểu, qua hơn 12 năm thực hiện, cả nước đã tiếp nhận trên 1,5 triệu vụ việc, trong đó hòa giải thành hơn 1,23 triệu vụ, đạt khoảng 81,92%. Những con số này cho thấy hòa giải ở cơ sở là một thiết chế rất gần dân và có vai trò cần thiết trong giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cộng đồng.

Vì vậy, đại biểu Bùi Văn Dũng nhấn mạnh, việc sửa Luật lần này phải nâng cao hiệu quả hòa giải nhưng không làm mất đi bản chất “tự nguyện, mềm dẻo và dựa vào uy tín cộng đồng”.

Góp ý về tiêu chuẩn hòa giải viên tại Điều 7, đại biểu đồng tình với yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn không nên được thiết kế theo hướng quá cứng.

Khoản 2, Điều 7 quy định hòa giải viên phải có khả năng thuyết phục, vận động Nhân dân và có hiểu biết pháp luật. Theo đại biểu, cần làm rõ tiêu chí “có hiểu biết pháp luật” được xác định như thế nào, bởi hòa giải viên cần nhất ba yếu tố: có uy tín, có hiểu biết cần thiết và có khả năng thuyết phục.

dsc_9643(1)-a1a81b8a2c9f608d060998ca179a31cd.jpg
Quang cảnh thảo luận tại Tổ 3. Ảnh: Lâm Hiển

Từ thực tiễn ở cơ sở, người hòa giải tốt nhất chưa chắc là người có trình độ pháp luật cao nhất. Đó có thể là trưởng thôn, người cao tuổi, cán bộ nghỉ hưu, người có uy tín trong dòng họ hoặc người hiểu rõ hoàn cảnh của các gia đình có mâu thuẫn.

Do đó, đại biểu đề nghị rà soát Điều 7 theo hướng không đặt ra những điều kiện có thể dẫn tới việc “chuyên nghiệp hóa” hòa giải viên, làm thu hẹp khả năng tham gia của những người có uy tín, kinh nghiệm sống và có tiếng nói trong cộng đồng.

Đối với Điều 9 về chỉ định hòa giải viên, đại biểu Bùi Văn Dũng cho rằng, đây là cơ chế cần thiết để xử lý những trường hợp đặc biệt, khi không thể tổ chức bầu hoặc không bầu đủ số lượng hòa giải viên.

Tuy nhiên, Luật cần khẳng định rõ chỉ định hòa giải viên chỉ là trường hợp ngoại lệ, còn việc lựa chọn thông qua bầu từ cộng đồng vẫn phải là nguyên tắc. Đồng thời, cần quy định rõ thời hạn tham gia của người được chỉ định và quyền của các bên trong việc yêu cầu thay đổi hòa giải viên nếu có căn cứ cho rằng người đó không bảo đảm tính khách quan.

Đại biểu nhấn mạnh: hòa giải viên có thể được chỉ định về mặt tổ chức, nhưng niềm tin của người dân thì không thể chỉ định.

Góp ý về người được mời tham gia hòa giải tại Điều 18, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo bổ sung quy định này, bởi các mâu thuẫn, tranh chấp ở cơ sở ngày càng phức tạp. Chẳng hạn, tranh chấp đất đai có thể cần người hiểu hồ sơ địa chính; tranh chấp thừa kế cần người có kiến thức pháp luật dân sự; mâu thuẫn gia đình có khi cần người hiểu về tâm lý, trẻ em hoặc công tác xã hội. Không thể yêu cầu một hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố phải am hiểu sâu tất cả những lĩnh vực này.

Tuy nhiên, theo đại biểu, Điều 18 mới giải quyết được vấn đề “được mời ai”, nhưng chưa làm rõ “mời bằng cách nào” và cơ quan nào có trách nhiệm hỗ trợ việc kết nối. Đây mới là yếu tố quyết định tính khả thi của quy định.

dsc_9645(1).jpg
ĐBQH tỉnh Thanh Hóa tham dự phiên thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển

Đại biểu đề nghị bổ sung theo hướng, khi vụ việc phức tạp, hòa giải viên có quyền đề nghị UBND cấp xã hỗ trợ kết nối với người có chuyên môn phù hợp như luật sư, trợ giúp viên pháp lý, cán bộ chuyên môn, người làm công tác xã hội hoặc người có uy tín.

Dự thảo đã bổ sung tại Điểm h, Khoản 2, Điều 32 trách nhiệm của UBND cấp xã trong tiếp nhận, chỉ đạo giải quyết các kiến nghị, đề xuất của hòa giải viên và người được mời tham gia hòa giải. Đại biểu đề nghị tiến thêm một bước, gắn quy định tại Điều 18 với Điều 32, xác định rõ UBND cấp xã có trách nhiệm hỗ trợ kết nối chuyên môn khi tổ hòa giải có yêu cầu chính đáng.

Nếu Luật chỉ quy định hòa giải viên “được mời” người có chuyên môn nhưng khi cần lại không biết mời ai, tìm ở đâu và liên hệ bằng cách nào thì quyền này sẽ rất khó được thực hiện trong thực tế.

Không chỉ thống kê hòa giải thành, phải đánh giá tranh chấp có thực sự kết thúc

ĐBQH Bùi Văn Dũng đặc biệt quan tâm đến các quy định về kết quả hòa giải thành và việc công nhận kết quả hòa giải thành. Đại biểu đặt vấn đề: Sau khi hòa giải thành, tranh chấp đã thực sự kết thúc hay chưa?

Đơn cử, hai hộ gia đình tranh chấp lối đi, sau hòa giải đã thống nhất và ký văn bản. Tuy nhiên, ba tháng sau, một bên không thực hiện thỏa thuận, khiến tranh chấp tiếp tục được đưa lên UBND hoặc Tòa án. Nếu chỉ nhìn vào số liệu thống kê, đây được xác định là một vụ hòa giải thành, nhưng trên thực tế, tranh chấp vẫn chưa kết thúc.

Từ đó, đại biểu đồng tình với hướng dự thảo bổ sung cơ chế để các bên yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành. Tuy nhiên, quy định này cần tiếp tục được làm rõ trên ba phương diện.

dsc_9670(1).jpg
ĐBQH tỉnh Tây Ninh tham dự phiên thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển

Trước hết, cần xác định loại kết quả hòa giải thành nào thực sự cần được công nhận. Theo đại biểu, không nên tư pháp hóa mọi kết quả hòa giải. Những mâu thuẫn về tình cảm, gia đình, xóm giềng vẫn nên để các bên tự nguyện thực hiện. Đối với những thỏa thuận xác lập rõ quyền và nghĩa vụ dân sự, cần có cơ chế công nhận khi các bên có yêu cầu.

Bên cạnh đó, thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành phải thật sự đơn giản. Nếu muốn được công nhận kết quả hòa giải mà người dân phải trải qua một quy trình gần giống như khởi kiện thì lợi thế của hòa giải sẽ giảm đi rất nhiều.

Đồng thời, cần quy định rõ hơn việc theo dõi quá trình thực hiện thỏa thuận sau hòa giải. Đại biểu cho rằng, cơ quan quản lý không nên chỉ thống kê có bao nhiêu vụ hòa giải thành, mà cần xác định có bao nhiêu vụ hòa giải thành đã được các bên thực hiện đầy đủ và không phát sinh tranh chấp trở lại. Đây mới là chỉ số phản ánh đúng chất lượng và hiệu quả của công tác hòa giải ở cơ sở.

Liên quan đến khoản 8 và khoản 9, Điều 4 về nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải và việc ứng dụng công nghệ, tôi ủng hộ chủ trương chuyển đổi số, nhưng hòa giải ở cơ sở có những đặc thù riêng. Hiện nay, nhiều người tham gia hòa giải là người cao tuổi. Nhiều vụ việc lại liên quan trực tiếp đến các mối quan hệ gia đình, dòng họ và làng xóm. Có những mâu thuẫn đòi hỏi các bên phải trực tiếp ngồi lại với nhau, nghe nhau nói và nhìn thấy thái độ của nhau mới có thể hóa giải. Vì vậy, dự thảo Luật cần thể hiện rõ nguyên tắc ứng dụng công nghệ chỉ là phương thức hỗ trợ, phải phù hợp với điều kiện thực tế và dựa trên sự tự nguyện của các bên. Không nên vì yêu cầu chuyển đổi số mà vô tình tạo thêm một “thủ tục số” cho một thiết chế vốn cần sự đơn giản, linh hoạt và gần gũi. Công nghệ phải phục vụ hòa giải, không được làm hành chính hóa hoạt động hòa giải”.

ĐBQH chuyên trách tỉnh Thanh Hóa BÙI VĂN DŨNG

    Thước đo của hòa giải là kết thúc được một tranh chấp
    • Mặc định