Thành quả tăng trưởng phải gắn với chất lượng cuộc sống của người dân
Bên hành lang Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, trao đổi với phóng viên Báo Đại biểu Nhân dân, ĐBQH Lê Hữu Trí (Khánh Hòa) cho rằng, cùng với mục tiêu tăng trưởng cao, cần chú trọng hiệu quả đầu tư, sức phát triển của doanh nghiệp và thu nhập thực tế của người dân. Kết quả thực hiện chính sách phải được thể hiện qua việc làm, chất lượng giáo dục, y tế và những chuyển biến trong đời sống hằng ngày.
- Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, tác động trực tiếp đến tình hình trong nước, ông nhận định như thế nào về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 của nước ta?
- Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, áp lực lạm phát, chi phí năng lượng và những bất ổn của thương mại quốc tế tiếp tục tác động đến nước ta, những kết quả đạt được rất đáng trân trọng. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tăng trưởng duy trì ở mức cao, các cân đối lớn được bảo đảm; hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh và nhiều công trình hạ tầng quan trọng quốc gia được triển khai. Kết quả đó thể hiện nỗ lực lớn trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, cùng sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp.

Khi đặt mục tiêu tăng trưởng cao, tôi cho rằng cần làm rõ tăng trưởng đến từ đâu, chất lượng ra sao, có bền vững không và thành quả ấy được chuyển hóa thành thu nhập, việc làm, năng lực cạnh tranh và chất lượng sống như thế nào.
Theo Báo cáo thẩm tra, GDP 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01%. Để đạt mục tiêu cả năm từ 10% trở lên, quý IV cần tăng khoảng 12,5%. Đây là thách thức rất lớn, đòi hỏi phải đánh giá đầy đủ các điều kiện thực hiện.
Mục tiêu tăng trưởng phải đi liền với luận chứng về nguồn lực, năng lực hấp thụ vốn và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Cần phân tích kỹ đóng góp của tiêu dùng trong nước, đầu tư công, đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài, xuất khẩu và năng suất lao động. Qua đó mới xác định được động lực nào đang thực sự dẫn dắt tăng trưởng, động lực nào còn yếu để có chính sách khơi thông phù hợp.
- Xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục đạt kết quả tích cực. Theo ông, làm thế nào để những kết quả này tạo sức lan tỏa lớn hơn đối với nền kinh tế trong nước?
- Xuất khẩu 9 tháng năm 2026 tăng 24,5%, vốn FDI thực hiện đạt 21,1 tỷ USD, tăng 12,1%. Đây là những kết quả đáng ghi nhận. Song, cùng với các chỉ tiêu về quy mô, cần đánh giá sâu hơn phần giá trị thực sự được tạo ra tại Việt Nam.
Xuất khẩu tăng nhanh nhưng doanh nghiệp trong nước tham gia được đến đâu trong chuỗi cung ứng? Năng suất lao động, trình độ công nghệ và thu nhập của người lao động được cải thiện như thế nào? Đây là những vấn đề cần được xem xét kỹ.
Nếu sản xuất, xuất khẩu tăng nhưng nguyên liệu, linh kiện và công nghệ vẫn phụ thuộc nhiều vào bên ngoài, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu đảm nhận những công đoạn có giá trị gia tăng thấp, thì khả năng lan tỏa của tăng trưởng còn hạn chế. Khi thị trường thế giới biến động, chuỗi cung ứng bị gián đoạn hoặc đối tác thay đổi chính sách thương mại, nền kinh tế sẽ dễ bị tổn thương.
Vì vậy, cần chuyển mạnh sang tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng trong nước; nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng tỷ lệ nội địa hóa hợp lý, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Hiệu quả thu hút FDI cần được đánh giá cả ở mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước. Cần có cơ chế khuyến khích sự liên kết thực chất, giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

- Với doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, cần ưu tiên tháo gỡ những vấn đề gì để thúc đẩy sản xuất và tạo việc làm, thưa ông?
- Điều doanh nghiệp đang cần là một môi trường kinh doanh ổn định, dễ dự đoán, tiếp cận được vốn, đất đai và cơ hội thị trường. Nếu chi phí vốn còn cao, thủ tục phức tạp, đầu ra thiếu ổn định, lại phải chịu nhiều chi phí không chính thức thì rất khó khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm và tăng tiền lương cho người lao động.
Tôi đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát, nâng cao hiệu quả các chương trình bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; tạo điều kiện để doanh nghiệp đủ điều kiện tiếp cận được các chương trình hỗ trợ.
Cùng với đó, cần giảm chi phí tuân thủ, tháo gỡ vướng mắc pháp lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp; tạo cơ hội để khu vực kinh tế tư nhân trong nước tham gia các dự án lớn.
Về lâu dài, doanh nghiệp cần nguồn vốn phù hợp để đầu tư vào sản xuất, công nghệ và mở rộng hoạt động. Vì vậy, phải phát triển thực chất thị trường vốn, nâng cao tính minh bạch và kỷ luật của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, mở rộng các kênh huy động vốn trung và dài hạn. Đồng thời, kiểm soát chặt chất lượng tín dụng và rủi ro trong các lĩnh vực có mức độ liên thông cao như ngân hàng, trái phiếu và bất động sản.
- Đối với đầu tư công, theo ông, cần chú trọng điều gì để vừa thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, vừa sử dụng hiệu quả nguồn lực?
- Theo Báo cáo thẩm tra, giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng năm 2026 đạt 62,9% kế hoạch; số vốn tạm ứng chưa thu hồi lên tới 237,2 nghìn tỷ đồng. Những con số này đặt ra yêu cầu phải đánh giá thực chất chất lượng giải ngân, tiến độ hoàn thành và khả năng chuyển hóa vốn đầu tư thành năng lực sản xuất, hạ tầng, dịch vụ công.
Cần kiên quyết khắc phục tình trạng dự án kéo dài, đội vốn, chậm đưa công trình vào khai thác, gây lãng phí nguồn lực xã hội. Phân bổ vốn phải gắn với hiệu quả kinh tế - xã hội, khả năng hoàn thành và trách nhiệm của chủ đầu tư.
Dự án chậm tiến độ do nguyên nhân chủ quan phải được làm rõ trách nhiệm. Dự án không còn hiệu quả cần được đánh giá lại, điều chỉnh hoặc xử lý theo quy định.

Tôi muốn nhấn mạnh, giải ngân nhanh là cần thiết, nhưng giải ngân đúng, sử dụng vốn hiệu quả và tạo ra giá trị thực tế cho xã hội còn quan trọng hơn. Đầu tư công phải thực sự đóng vai trò dẫn dắt, kích hoạt đầu tư tư nhân và tạo lan tỏa cho phát triển.
Khơi thông nguồn lực cũng phải đi cùng giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Tăng trưởng nhanh nhưng sử dụng vốn kém hiệu quả, chi phí vốn cao, rủi ro tài chính tích tụ hoặc thiếu năng lượng cho sản xuất thì khó có thể duy trì bền vững.
- Thước đo của tăng trưởng kinh tế phải là sự cải thiện đời sống người dân. Theo ông, cần chú trọng những vấn đề gì để người dân thực sự được thụ hưởng thành quả phát triển?
- Tăng trưởng kinh tế cuối cùng phải tạo ra việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn, cơ hội phát triển rộng hơn và chất lượng cuộc sống tốt hơn. Nếu GDP tăng cao nhưng nhiều gia đình vẫn chịu áp lực lớn về chi phí sinh hoạt, người lao động khó mua hoặc thuê nhà, người trẻ thiếu cơ hội việc làm ổn định, thì cần xem xét kỹ mức độ lan tỏa của tăng trưởng.
CPI bình quân 9 tháng năm 2026 ước tăng 4,52%. Mức tăng này cơ bản bám sát mục tiêu điều hành, nhưng áp lực chi tiêu thực tế giữa các nhóm dân cư không giống nhau. Người thu nhập thấp thường dành phần lớn thu nhập cho thực phẩm, nhà ở, điện nước, đi lại, học hành và khám, chữa bệnh nên dễ bị tổn thương hơn trước biến động giá cả.
Cần đánh giá cụ thể tác động của tăng trưởng và lạm phát đối với thu nhập thực tế của từng nhóm dân cư; có giải pháp kiểm soát giá hàng hóa thiết yếu, nâng cao năng suất lao động và tạo điều kiện để tiền lương tăng dựa trên năng suất, hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Đối với giảm nghèo, cần đặc biệt quan tâm các hộ vừa thoát nghèo, hộ có nguy cơ tái nghèo và người dân ở những địa bàn còn thiếu sinh kế bền vững. Hỗ trợ phải gắn với việc làm, đào tạo nghề, tiếp cận thị trường và khả năng tự vươn lên của người dân.
Trong lĩnh vực y tế, người dân cần được khám, chữa bệnh với chi phí hợp lý; học sinh cần môi trường học tập an toàn, chất lượng; người lao động cần được bảo đảm quyền lợi; người dân đô thị cần môi trường sống ít ô nhiễm, giảm ngập úng và ùn tắc giao thông.

Cùng với đầu tư cơ sở vật chất, phải có chính sách đãi ngộ xứng đáng cho đội ngũ cán bộ, y, bác sĩ tuyến cơ sở; nâng cao chất lượng y tế dự phòng và khám, chữa bệnh ban đầu, góp phần giảm tải cho bệnh viện tuyến trên. Quỹ bảo hiểm y tế cần được sử dụng hiệu quả, giảm các khoản người bệnh phải tự chi trả trong phạm vi chính sách cho phép.
Cùng với đó, cần chú trọng bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; kiên trì, kiên quyết trong công tác đấu tranh phòng, chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Phải sớm phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, thực phẩm không bảo đảm an toàn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe và quyền lợi của người dân.
Trong giáo dục, cần coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức của cả thầy và trò, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh; kiểm soát chặt các khoản thu, công khai các khoản đóng góp, hạn chế phát sinh chi phí ngoài quy định. Cần tăng tính ổn định của chương trình, sách giáo khoa, giảm áp lực học tập và chi phí cho gia đình người học; đồng thời nâng cao đời sống, thu nhập cho giáo viên, nhất là giáo viên mầm non, giáo viên ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo.
Về môi trường, cần tăng cường quan trắc, xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm và xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý khi để vi phạm kéo dài.
Người dân mong muốn đất nước tăng trưởng nhanh, đồng thời mong cuộc sống ổn định hơn, thu nhập tốt hơn, con cái được học hành đầy đủ, người bệnh được chăm sóc tốt hơn và các quyền, lợi ích hợp pháp được bảo vệ.
Tăng trưởng phải tạo ra việc làm. Phát triển phải đi đôi với công bằng. Cải cách phải giúp người dân bớt khó khăn. Mọi chính sách phải được kiểm chứng bằng kết quả thực tế.
Tôi tin tưởng Chính phủ sẽ có những giải pháp mạnh mẽ, thực chất hơn để các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2027 được người dân cảm nhận rõ trong từng gia đình, từng doanh nghiệp và từng địa phương.
- Xin trân trọng cảm ơn ông!

