Thành công của Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI: Quốc hội đang đi sâu hơn vào hiệu quả vận hành của hệ thống
Nhìn lại thành công của Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Sơn, ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường nhấn mạnh, Kỳ họp đã nhìn nhận rất trực diện các điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện để có giải pháp kịp thời, Quốc hội đang đi sâu hơn giám sát chất lượng tổ chức thực hiện và hiệu quả vận hành của hệ thống.
Xử lý ngày càng trực diện các điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện
- Kết quả nổi bật nhất của Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, theo ông là gì?
- Kỳ họp này diễn ra trong bối cảnh rất đặc biệt khi đã đi quá nửa chặng đường năm 2026, nhiều chỉ tiêu kinh tế xã hội đã tiệm cận yêu cầu đặt ra nhưng nhìn vào thực tế triển khai vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ, nhiều yêu cầu phải nghiên cứu thấu đáo và có giải pháp thích hợp.
Thực tiễn cho thấy, nhiều điểm nghẽn về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, đấu thầu, khoa học - công nghệ, năng lượng, môi trường đã được nhận diện và xử lý nhưng không phải cứ tháo được nút thắt trong từng luật là nguồn lực tự động được giải phóng.

Nhiều nguồn lực đã được pháp luật mở đường nhưng vẫn chưa chuyển hóa đầy đủ thành tăng trưởng do ách lại ở khâu thực thi, cụ thể như: phân cấp mạnh nhưng cụ thể hoá còn chậm, cấp dưới còn e ngại trách nhiệm; cùng một chính sách nhưng cách hiểu giữa các ngành, địa phương chưa thống nhất; quy hoạch có rồi nhưng dự án vẫn chậm; vốn đã bố trí nhưng giải ngân chưa đạt yêu cầu; đất đai, nhà cửa, tài sản công dôi dư nhưng chưa được khai thác hiệu quả; công nghệ có nhưng quá trình thương mại hóa còn chậm…
Tại Kỳ họp, Quốc hội xem xét, quyết định 33 nội dung; thông qua 15 luật và 4 nghị quyết quy phạm pháp luật, cho ý kiến lần đầu đối với 7 dự án luật và xem xét nhiều vấn đề quan trọng của đất nước. Nếu chỉ nhìn con số này để đánh giá chất lượng kỳ họp thì chưa đủ. Tôi cho rằng, kết quả quan trọng nhất của kỳ họp là cách tiếp cận và xử lý các nội dung có tính chiến lược, là cơ sở quan trọng để tháo gỡ ngay các bất cập, sớm khơi thông nguồn lực hoặc là nền tảng quan trọng để sửa các luật có tác động mạnh mẽ tới phát triển kinh tế xã hội và tới đời sống của người dân.
Điều này cho thấy, Quốc hội đã thể hiện sắc nét hơn vai trò đồng hành cùng Chính phủ, đi sâu hơn vào giám sát chất lượng tổ chức thực hiện và hiệu quả vận hành của hệ thống. Thể chế vẫn tiếp tục được hoàn thiện, nhưng câu hỏi đặt ra không chỉ là “pháp luật còn thiếu gì?” mà là “vì sao chính sách đã có nhưng chưa chạy, nguồn lực đã mở nhưng chưa đi vào nền kinh tế?”.
Làm thế nào để thể chế hoá đầy đủ quan điểm pháp luật “mở đường”, “kiến tạo” cho phát triển?
- Kỳ họp có khối lượng công việc lớn và yêu cầu xử lý nhanh. Theo ông, đâu là cách làm mới, đột phá?
- Như tôi đã đề cập ở trên, điểm mới quan trọng nhất nằm ở cách tiếp cận và cách thiết kế chính sách. Nếu ở kỳ họp trước, yêu cầu chính là tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, tập trung vào rà soát và xử lý các xung đột, chồng chéo, khoảng trống của hệ thống pháp luật thì kỳ họp này đặt ra một yêu cầu mới: phải xử lý độ trễ giữa chính sách và thực tế.
Thực tiễn cho thấy, có những vấn đề không nằm ở thiếu thẩm quyền mà ở không dám sử dụng thẩm quyền; không nằm ở thiếu nguồn lực mà ở nguồn lực bị phân tán, thủ tục kéo dài; không nằm ở chưa phân cấp mà ở phân cấp chưa đi cùng năng lực, dữ liệu và trách nhiệm; không nằm ở thiếu cơ chế mà ở cơ chế đã có nhưng thực hiện không thống nhất.
- Theo ông, điều gì cho thấy Quốc hội đang chuyển mạnh từ tư duy “làm luật” sang “kiến tạo phát triển bằng pháp luật”?
Tôi thấy có hai thay đổi đáng chú ý.
Thứ nhất là Quốc hội bắt đầu xem xét các vấn đề theo chuỗi chính sách, thay vì chỉ tiếp cận từng đạo luật riêng biệt. Việc Quốc hội cho ý kiến về định hướng chính sách đối với nhóm đất đai - nhà ở và thị trường bất động sản cho thấy rõ điều này. Vấn đề không chỉ là sửa từng đạo luật. Phải nhìn cả chuỗi từ quy hoạch, tiếp cận đất đai, giải phóng mặt bằng, lựa chọn nhà đầu tư, triển khai dự án, tạo lập nhà ở cho đến vận hành thị trường bất động sản. Nếu một mắt xích còn ách tắc thì sửa riêng từng luật khó tạo ra chuyển biến tổng thể.
Tương tự, việc cho ý kiến định hướng hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công không nên hiểu đơn thuần là gộp hai luật. Vấn đề cần giải quyết là rút ngắn khoảng cách từ quyết định phân bổ nguồn lực đến thời điểm nguồn lực thực sự đi vào nền kinh tế; giảm sự trùng lặp giữa lập kế hoạch, phân bổ, điều chỉnh và giải ngân.
Hay đối với hạ tầng, Quốc hội không chỉ xem xét từng tuyến đường, từng dự án riêng lẻ mà đặt vấn đề đồng bộ giữa đường sắt, đường bộ, cảng biển, logistics, phát triển đô thị và khai thác nguồn lực đất đai. Cách tiếp cận đó coi hạ tầng không chỉ là một khoản chi đầu tư mà là công cụ mở không gian phát triển và tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng.
Thứ hai là xây dựng, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo từng mảng lĩnh vực, từng nội dung, thay vì để mỗi ngành, mỗi lĩnh vực tự sửa đổi theo pháp luật chuyên ngành.
Tại Kỳ họp có nhiều đạo luật sửa đồng thời nhiều luật, đối với Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và môi trường có 2 luật sửa theo cách này, bao gồm luật sửa 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; luật sửa 4 luật liên quan tới tần số vô tuyến điện, viễn thông, giao dịch điện tử và chuyển giao công nghệ. Cách làm này rút ngắn độ trễ giữa nhận diện vướng mắc và xử lý vướng mắc, sớm phát huy được hiệu quả.
Theo tôi, đây chính là một trong những cách tiếp cận và xử lý theo hướng chuyển đổi từ “làm luật” sang “kiến tạo phát triển bằng pháp luật”. Nếu chỉ “làm luật”, câu hỏi thường là quy định đã đủ chưa, điều khoản đã chặt chưa. Còn kiến tạo phát triển phải đặt thêm câu hỏi: quy định này có làm một dự án triển khai nhanh hơn không; một nguồn lực có được đưa vào sử dụng sớm hơn không; chi phí của doanh nghiệp có giảm không; năng suất của nền kinh tế có tăng lên không?
Tuy nhiên, càng làm nhanh, phân cấp mạnh và giảm tiền kiểm thì yêu cầu kiểm soát chất lượng càng phải cao. Mục tiêu phải là hệ thống ra quyết định nhanh hơn nhưng trách nhiệm rõ hơn; thủ tục ít hơn nhưng quản lý hiệu quả hơn. Ở đây, việc liên thông và sử dụng dữ liệu rất quan trọng. Cách tiếp cận quản trị theo rủi ro, chia sẻ dữ liệu và phân loại tạo luồng “xanh-đỏ-vàng” cho các đối tượng khi đánh giá việc tuân thủ pháp luật rất quan trọng. Đây là một cách thức cắt giảm thủ tục mà không làm giảm yêu cầu quản lý. Theo tôi, đây mới là sự đổi mới thực chất làm cho pháp luật trở thành công cụ trực tiếp nâng cao hiệu quả vận hành của nền kinh tế.
Cần hình thành rõ hơn cơ chế hậu kiểm
- Sau Kỳ họp, theo ông, đâu là khâu quyết định để các luật, nghị quyết vừa được thông qua thực sự tạo chuyển biến trong thực tế? Quốc hội cần làm gì để giám sát kết quả thực thi?
- Nếu đặc trưng của giai đoạn trước là tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, thì một nhiệm vụ rất lớn của giai đoạn tới là cần giám sát kết quả thực thi pháp luật. Theo tôi, Quốc hội cần tập trung vào ba nhóm vấn đề:
Trước hết, phải giám sát chặt văn bản quy định chi tiết. Trong điều kiện luật ngày càng quy định theo hướng nguyên tắc, khung chính sách và giao Chính phủ, bộ, ngành cụ thể hóa, một phần rất quan trọng của chính sách thực tế nằm ở nghị định và thông tư. Không thể chỉ kiểm đếm đã ban hành đủ bao nhiêu văn bản. Phải xem văn bản dưới luật có phát sinh thêm thủ tục, thêm điều kiện kinh doanh; có thu hẹp quyền hoặc làm chậm quá trình phân cấp; có tạo ra cách hiểu khác nhau giữa các địa phương hay không.
Thứ hai, phải chuyển mạnh từ giám sát việc ban hành văn bản sang giám sát kết quả đầu ra. Một chính sách được ban hành với mục tiêu tháo gỡ điểm nghẽn thì sau một thời gian phải đo được: thời gian chuẩn bị dự án giảm bao nhiêu; tỷ lệ giải ngân tăng thế nào; bao nhiêu dự án được khơi thông; chi phí tuân thủ của doanh nghiệp giảm ra sao; bao nhiêu thủ tục được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số. Nếu chỉ có đủ nghị định, thông tư nhưng những chỉ số này không thay đổi thì chưa thể nói chính sách đã thành công.
Thứ ba, cần hình thành rõ hơn cơ chế hậu kiểm. Tức là lựa chọn ngay từ đầu một số luật, chính sách lớn để theo dõi, giám sát trong năm đầu thực hiện; yêu cầu Chính phủ báo cáo bằng chỉ tiêu cụ thể; tổ chức giải trình sớm khi tiến độ chậm, khi các địa phương hiểu khác nhau; và xử lý kịp thời những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện mà không phải vấn đề nào cũng quay trở lại sửa luật.
- Đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường phụ trách, theo ông cần chú ý những vấn đề gì để luật thực sự đi vào cuộc sống?
Tôi cho rằng có ba nhóm vấn đề cần đặc biệt lưu ý.
Một là, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhiều cơ chế mới, thông thoáng đã được ban hành trong thời gian qua. Bây giờ phải giám sát xem chính sách có thực sự vận hành hay không: nguồn lực nghiên cứu có đến được nhà khoa học nhanh không; kết quả nghiên cứu được thương mại hóa đến đâu; doanh nghiệp có tiếp cận được công nghệ không; dữ liệu có được chia sẻ và thủ tục đã thực sự thông thoáng hay chưa.
Hai là, nông nghiệp và môi trường. Đây là lĩnh vực chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm và quản lý theo rủi ro. Bỏ một giấy phép là việc có thể làm nhanh, nhưng sau khi bỏ thì hệ thống có đủ dữ liệu để nhận diện rủi ro cao không; có đủ năng lực kiểm tra, truy xuất và xử lý vi phạm hay không mới là vấn đề quyết định. Đơn giản hóa thủ tục tuyệt đối không đồng nghĩa với hạ thấp tiêu chuẩn về môi trường, chất lượng sản phẩm hay an toàn.
Ba là, năng lượng và các dự án hạ tầng lớn. Với điện gió, điện mặt trời, điện hạt nhân, phát triển đô thị hay các tuyến giao thông chiến lược, trọng tâm giám sát phải là tiến độ, khả năng phối hợp giữa các cơ quan, giải phóng mặt bằng, bố trí nguồn lực và sự đồng bộ giữa các dự án thành phần.
Với mục tiêu tăng trưởng hai con số, đất đai, vốn đầu tư, dự án hạ tầng, công nghệ và cơ hội thị trường không thể "nằm chờ". Vì vậy, thước đo quan trọng nhất của Kỳ họp này và rộng hơn là của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI là quyết sách của Quốc hội phải thực sự tháo gỡ được điểm nghẽn thực thi, thúc đẩy kinh tế-xã hội, tăng năng suất và làm cho cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc hơn.
- Xin cảm ơn ông!

