Chính sách và cuộc sống

Thẩm quyền lập pháp

Quỳnh Chi • 24/10/2026 06:48

Cơ chế để Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ ban hành văn bản điều chỉnh quy định của luật là một trong những nội dung khiến các đại biểu Quốc hội băn khoăn khi thảo luận tại tổ về dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật sáng 23/10. Băn khoăn trước hết là bởi đề xuất này đã "chạm" đến một nguyên tắc hiến định.

Theo dự thảo Luật trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ sẽ được ban hành pháp lệnh, nghị định để điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp được để giải quyết ngay một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Tuy nhiên, theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền "làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp" và "làm luật, sửa đổi luật". Việc thiết lập một cơ chế cho phép các chủ thể khác ngoài Quốc hội điều chỉnh quy định của luật không đơn thuần là bổ sung một công cụ xử lý tình huống, mà còn liên quan trực tiếp đến thẩm quyền lập pháp và kiểm soát quyền lực nhà nước.

Nhu cầu điều chỉnh luật nhanh chóng để xử lý các vấn đề cấp bách là có thật, đặc biệt là trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực, thiên tai, biến đổi khí hậu, công nghệ... diễn biến phức tạp như hiện nay. Nhưng "nhu cầu xử lý nhanh không đương nhiên là căn cứ để thiết lập cơ chế cho phép điều chỉnh quy định của luật do Quốc hội ban hành", Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Nguyễn Phạm Duy Trang nhấn mạnh.

Trong khi đó, thực tế hoạt động của Quốc hội thời gian qua đã cho thấy, Quốc hội có thể tổ chức rất nhiều kỳ họp bất thường, kỳ họp không thường lệ để xử lý ngay các điểm nghẽn về thể chế. Chỉ trong thời gian khoảng 2 năm từ cuối nhiệm kỳ khóa XV đến nay, Quốc hội đã hoàn thành khối lượng nhiệm vụ lập pháp lớn chưa từng có, đóng góp trực tiếp vào thành tựu chung của đất nước, đặc biệt đã đưa thể chế từ "điểm nghẽn của điểm nghẽn" trở thành "thể chế đã cơ bản không còn là điểm nghẽn" như đánh giá, ghi nhận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Bên cạnh đó, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tình trạng khẩn cấp cũng đã quy định những cơ chế cần thiết để xử lý trong các tình huống cấp bách.

Các ĐBQH băn khoăn còn là bởi, hồ sơ dự án Luật trình Quốc hội chưa thể hiện đầy đủ kết quả nghiên cứu, chưa có đánh giá tác động, chưa chứng minh được vì sao lại cần phải có cơ chế để Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ ban hành văn bản điều chỉnh quy định của luật, vì sao các cơ chế hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu; cơ chế này cũng chưa phân định rõ với cơ chế tại Điều 47 về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp đặc biệt; chưa có phương án xử lý nếu Quốc hội không đồng ý với văn bản đã được ban hành...

Cơ chế nêu trên có được luật hóa hay không vẫn phải chờ quyết định cuối cùng của các đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp này. Tuy nhiên, cần lưu ý một vấn đề rất quan trọng đã được Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh tại phiên thảo luận tổ: nếu ngoại lệ trở thành thông lệ thì kỷ cương lập pháp sẽ bị bào mòn, sự ổn định của pháp luật - điều mà người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư cần nhất - cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Để có thể thuyết phục được các đại biểu Quốc hội thì những vấn đề "chưa có", "chưa rõ", "chưa chứng minh được"... mà đại biểu đã chỉ ra phải được giải trình đầy đủ, thấu đáo. Trong đó, về nguyên tắc như Chủ tịch Quốc hội chỉ ra là: chỉ nên giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội - cơ quan thường trực của Quốc hội - quyết định trên cơ sở đề nghị của Chính phủ, kèm theo các điều kiện chặt chẽ về phạm vi, thời hạn và trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; không nên để Chính phủ ban hành nghị định để sửa luật cũng như tự quy định trình tự, thủ tục cho cơ chế này. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính linh hoạt trong ứng phó nhưng không làm thay đổi nguyên tắc phân định thẩm quyền lập pháp.

Cùng với đó, cần xác định rõ thế nào là tình huống khẩn cấp, cấp bách; phạm vi nội dung được phép điều chỉnh; thời hạn áp dụng và trách nhiệm của từng chủ thể. Luật cũng phải xác định rõ cách xử lý hiệu lực văn bản, các quan hệ pháp luật đã phát sinh và trách nhiệm đối với những hậu quả liên quan nếu Quốc hội không tán thành với văn bản đã được ban hành. Đây không phải những thủ tục bổ sung mang tính hình thức, mà là các chốt kiểm soát cần thiết để bảo đảm trách nhiệm giải trình và ngăn ngừa nguy cơ lạm dụng thẩm quyền.

Phản ứng chính sách nhanh hơn, kịp thời hơn trong các tình huống khẩn cấp, cấp bách là rất cần thiết, nhưng đồng thời cũng phải bảo đảm kỷ cương lập pháp. Xử lý nhanh tình huống cấp bách, nhưng cũng cần giữ đúng thẩm quyền của Quốc hội, sự ổn định của hệ thống pháp luật.

    Thẩm quyền lập pháp
    • Mặc định