Thái Nguyên đứng thứ 2 cả nước về tăng trưởng kinh tế quý III/2026
Trong 9 tháng đầu năm 2026, GRDP của tỉnh Thái Nguyên tăng 11,24%, đứng thứ 6 trong 34 tỉnh, thành phố. Riêng quý III, kinh tế tỉnh tăng trưởng 13,96%, xếp thứ hai cả nước, trong đó sản xuất công nghiệp ghi nhận mức tăng cao nhất trong 5 năm trở lại đây, tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu của nền kinh tế.

Công nghiệp tiếp tục giữ vai trò chủ lực
Trong bối cảnh kinh tế thế giới liên tục diễn biến phức tạp, kinh tế trong nước còn đối mặt với nhiều thách thức, nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt của Trung ương, của tỉnh cùng sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên 9 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng.
Tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước đạt 11,24% so với cùng kỳ, cao hơn 2,23 điểm phần trăm so với mức tăng 9,01% của cả nước, cao hơn 0,54 điểm phần trăm so với kịch bản.
Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,22%, đóng góp 0,63 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 15,63%, đóng góp 7,51 điểm phần trăm, riêng ngành công nghiệp tăng 16,49%, đóng góp 7,01 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,61%, đóng góp 2,86 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,32%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm.
Riêng quý III/2026, GRDP của tỉnh ước tăng 13,96% so với cùng kỳ, cao hơn 4,01 điểm phần trăm so với mức tăng 9,95% của cả nước và vượt 2 điểm phần trăm so với kịch bản đề ra. Thái Nguyên đứng thứ 2 trong 34 tỉnh, thành phố về tốc độ tăng trưởng GRDP quý III.
Điểm nổi bật của bức tranh kinh tế 9 tháng là chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tiếp tục duy trì mức tăng cao. Ước tính quý III/2026, IIP tăng 29,71% so với cùng kỳ năm trước và tăng 8,89% so với quý II. Tính chung 9 tháng đầu năm, IIP tăng 23,23%, cao hơn mức tăng 12,3% của cả nước và là mức tăng cao nhất trong 5 năm trở lại đây.
Trong các ngành công nghiệp cấp I, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, tăng 23,63%. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,15%; sản xuất và phân phối điện tăng 6,68%; khai khoáng tăng 1,54%.
Xét theo ngành công nghiệp cấp II, nhiều lĩnh vực ghi nhận mức tăng trưởng cao như sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 24,64%; sản xuất trang phục tăng 21,51%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 17,13%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 11,9%; sản xuất kim loại tăng 11,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 11,17%; sản xuất thiết bị điện tăng 10,09%. Đáng chú ý, hoạt động sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị tăng 109,93%.
Nhiều sản phẩm chủ lực tăng mạnh
Đà tăng của sản xuất công nghiệp của tỉnh được thể hiện qua sản lượng nhiều sản phẩm chủ lực. Trong 9 tháng năm 2026, sản lượng mạch điện tử tích hợp ước đạt 9,7 triệu cái, tăng 112,6% so với cùng kỳ; tai nghe đạt 78,4 triệu cái, tăng 42,1%; máy tính bảng đạt 12,9 triệu cái, tăng 36,5%.

Ảnh: Đồng Thưởng
Cùng với đó, sản lượng vonfram và các sản phẩm từ vonfram ước đạt 18 nghìn tấn, tăng 31%; sản phẩm may đạt 111,9 triệu cái, tăng 20,3%; giấy và bìa nhăn đạt 101,7 nghìn tấn, tăng 18%.
Bên cạnh sản xuất công nghiệp, hoạt động thương mại và dịch vụ tiếp tục phục hồi, góp phần mở rộng sức mua và hỗ trợ lưu thông hàng hóa. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng ước đạt 85.257,1 tỷ đồng, tăng 21,4% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 13,4% của cả nước.
Trong đó, bán lẻ hàng hóa đạt 61.477,2 tỷ đồng, tăng 21,1%; dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 8.396 tỷ đồng, tăng 25,3%; du lịch lữ hành đạt 199,3 tỷ đồng, tăng 16,8%; các dịch vụ khác đạt 15.184,6 tỷ đồng, tăng 20,6%.
Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục đóng góp tích cực vào phát triển sản xuất. Tổng giá trị xuất, nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2026 ước đạt 52.065,9 triệu USD, tăng 34% so với cùng kỳ; cán cân thương mại hàng hóa ước thặng dư 8.699,9 triệu USD.
Giá trị xuất khẩu hàng hóa ước đạt 30.382,9 triệu USD, tăng 28,2%; nhập khẩu đạt 21.683 triệu USD, tăng 42,9%. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn, với giá trị xuất khẩu 28.913,9 triệu USD, tăng 25,1%, và nhập khẩu 20.749,5 triệu USD, tăng 40,7%.
Duy trì đà tăng trưởng, tháo gỡ điểm nghẽn
Khu vực FDI tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động xuất nhập khẩu của tỉnh. Giá trị xuất khẩu của khu vực này ước đạt 28,9 tỷ USD, tăng 25,1%; nhập khẩu đạt 20,75 tỷ USD, tăng 40,7%.
Trong lĩnh vực đầu tư, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh 9 tháng ước đạt khoảng 60.000 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn đầu tư của khu vực dân cư và tư nhân đạt khoảng 28.000 tỷ đồng, tăng 31,7%; vốn FDI đạt khoảng 22.600 tỷ đồng, tăng 25,1%.
Từ đầu năm đến nay, tỉnh cấp mới 23 dự án FDI với tổng vốn đăng ký hơn 5,81 tỷ USD; đồng thời có 22 dự án điều chỉnh tăng vốn, với tổng vốn đăng ký bổ sung khoảng 2,24 tỷ USD. Tuy nhiên, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công cần được đẩy nhanh. Lũy kế đến ngày 10/9, toàn tỉnh giải ngân 5.483,1 tỷ đồng, đạt khoảng 51,9% kế hoạch vốn được giao.
Theo tính toán của Thống kê tỉnh Thái Nguyên, để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP 11% trong năm 2026, địa phương cần duy trì mức tăng khoảng 10,5% trong quý IV, đặt ra yêu cầu tiếp tục giữ nhịp sản xuất và thúc đẩy các nguồn lực đầu tư. Đồng thời, xác định các nhiệm vụ trọng tâm gồm hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp chủ lực duy trì sản xuất, đẩy nhanh tiến độ dự án và giải ngân vốn đầu tư công, tăng cường quản lý thu ngân sách, kích cầu tiêu dùng và bình ổn thị trường.

