Tạo niềm tin, động lực, nền tảng để hoàn thành các mục tiêu tăng trưởng
Thảo luận tại tổ về kinh tế - xã hội, một số ý kiến cho rằng, vấn đề đặt ra không chỉ là quy mô tăng trưởng, số thu ngân sách hay tổng nguồn lực vốn đầu tư đã huy động được, mà quan trọng hơn là chất lượng của các nguồn lực, khả năng chuyển hóa thành năng lực sản xuất và hiệu quả đóng góp đối với tăng trưởng dài hạn.
ĐBQH Lê Minh Nam (Cần Thơ):
Quản trị rủi ro song hành với các giải pháp đột phá thúc đẩy phát triển kinh tế
Kết quả kinh tế - xã hội đạt được trong 9 tháng qua rất tích cực. GDP quý III/2026 tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. Đà tăng trưởng tăng dần qua các quý là kết quả rất ấn tượng, góp phần đưa GDP 9 tháng tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước, tiến gần mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả năm.

Những kết quả đạt được đã tạo niềm tin, động lực và nền tảng để tiếp tục phấn đấu hoàn thành toàn diện các mục tiêu, tầm nhìn phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Tuy nhiên, tôi cho rằng cần xây dựng chiến lược quản trị rủi ro như một trụ cột song hành với các giải pháp đột phá thúc đẩy phát triển kinh tế. Mặt khác, xây dựng chiến lược quản trị rủi ro tổng thể để chủ động điều hành, kịp thời ứng phó, xử lý từ sớm, từ xa các rủi ro mang tính hệ thống.
Ở góc độ cụ thể, cần chỉ đạo các cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực thường xuyên, liên tục kiểm soát chặt chẽ các nhân tố, đối tượng tiềm ẩn rủi ro. Chẳng hạn, áp lực điều hành đa mục tiêu, vừa đòi hỏi tăng trưởng cao, vừa phải kiểm soát lạm phát ở mức thấp; sự lệch pha giữa kỳ hạn huy động vốn và cho vay của hệ thống ngân hàng, khi nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay dài hạn. Bên cạnh đó, cần quan tâm đến áp lực đối với cán cân thanh toán và rủi ro tín dụng bất động sản trong bối cảnh thị trường, giá cả và khả năng thanh toán của các sản phẩm bất động sản. Những yếu tố bên ngoài như giá nhiên liệu, chính sách tỷ giá, lãi suất và diễn biến tiền tệ quốc tế cũng tác động lớn đến việc điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ.
Từ đó, cần xem xét, xây dựng các phương án ứng phó, xử lý rủi ro một cách chủ động, tổng thể, có hệ thống và sử dụng đồng bộ nhiều công cụ, thay vì chỉ xử lý từng tình huống riêng lẻ. Tuy nhiên, thận trọng không có nghĩa là làm nhụt ý chí hoặc trở thành lý do trì hoãn hành động. Tôi cho rằng, cần xem việc phòng ngừa, kiểm soát rủi ro như chuẩn bị một bộ phanh tốt cho chiếc xe chạy với tốc độ cao. Dù có thể không phải sử dụng đến, nhưng chính bộ phanh tốt sẽ giúp chúng ta yên tâm tăng tốc mà vẫn kiểm soát được nguy cơ xảy ra tai nạn.
ĐBQH Nguyễn Như So (TP. Bắc Ninh):
Biến đất đai và nguồn lực phân tán thành nền tảng hình thành doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn
Bức tranh kinh tế 9 tháng năm 2026 đã đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, nền kinh tế đã nhập siêu 19,42 tỷ USD cho thấy mức độ phụ thuộc lớn vào nguyên liệu, linh kiện và đầu vào nhập khẩu, phản ánh năng lực tự chủ của nền kinh tế còn hạn chế. Riêng 9 tháng năm 2026 có hơn 172 nghìn doanh nghiệp rời thị trường.

Do đó, vấn đề đặt ra không chỉ là quy mô tăng trưởng, số thu ngân sách hay tổng nguồn lực vốn đầu tư đã huy động được, mà quan trọng hơn là chất lượng của các nguồn lực, khả năng chuyển hóa thành năng lực sản xuất và hiệu quả đóng góp đối với tăng trưởng dài hạn.
Tôi đề nghị tập trung vào 4 nhóm giải pháp trọng tâm để tháo gỡ điểm nghẽn, giải phóng nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Một là, đối với chính sách tài khóa và hàm ý điều hành chính sách tiền tệ và tín dụng liên quan đến hiệu quả truyền dẫn nguồn vốn tới khu vực doanh nghiệp.
Theo đó, cần chuyển trọng tâm từ đánh giá chủ yếu theo quy mô thu ngân sách và mức vượt dự toán sang đánh giá đồng thời chất lượng nguồn thu, khả năng duy trì trong trung hạn và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chi. Đặc biệt, cần làm rõ tỷ trọng đóng góp của hoạt động sản xuất, kinh doanh trong tổng thu ngân sách, cũng như khả năng duy trì các khoản thu từ đất đai, dầu thô và hoạt động tài chính trong nước.
Hai là, chuyển từ tư duy coi FDI là động lực tăng trưởng chủ yếu sang tư duy sử dụng FDI như một đòn bẩy để nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.
Ba là, cần tạo đột phá trong phát triển doanh nghiệp nông nghiệp thông qua mô hình hợp tác xã kiểu mới, nắm giữ cổ phần nông hộ, biến đất đai và nguồn lực phân tán thành nền tảng hình thành những doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn.
Bốn là, coi đầu tư cho môi trường và khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu là một khoản đầu tư cho tăng trưởng, không phải chỉ là chi phí.
Chính sách cần chuyển từ hỗ trợ sau thiệt hại sang tạo động lực đầu tư trước để giảm thiệt hại, phòng ngừa rủi ro. Nhà nước cần có cơ chế ưu đãi đủ thực chất về tín dụng, thuế, đất đai và đầu tư; khuyến khích doanh nghiệp chủ động đầu tư, đổi mới công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng, phát triển kinh tế tuần hoàn và nâng cao khả năng chống chịu và ứng phó với biến đổi khí hậu. Khẩn trương hoàn thiện, ban hành cơ chế lãi suất 2% đối với các dự án xanh, áp dụng tiêu chuẩn ESG… Đồng thời phát triển mạnh thị trường carbon, tạo thêm nguồn lực và động lực cho quá trình chuyển đổi. Đây không chỉ là chính sách hỗ trợ doanh nghiệp mà là đầu tư để bảo vệ năng lực sản xuất và sức chống chịu của cả nền kinh tế.
ĐBQH Lê Thị Thúy Sen (Hưng Yên):
Nghiên cứu vận dụng mô hình “kinh tế chia sẻ”
Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự vào cuộc của Quốc hội đã góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động. Để tạo đột phá phát triển và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần có cách tiếp cận mới trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội.

Tôi đề xuất nghiên cứu vận dụng mô hình “kinh tế chia sẻ” theo nghĩa rộng nhằm phát huy sự cộng hưởng giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, tập trung vào ba nhóm giải pháp.
Thứ nhất, vận dụng kinh tế chia sẻ để thu hút, giữ chân nhân tài. Trong bối cảnh cạnh tranh nhân lực chất lượng cao ngày càng gay gắt, ngân sách nhà nước khó có thể đáp ứng toàn bộ yêu cầu đãi ngộ bằng tiền lương. Vì vậy, cần kết hợp nguồn lực công và tư, trong đó Nhà nước bảo đảm tiền lương cơ bản, còn doanh nghiệp tư nhân tham gia hỗ trợ nhà ở, chăm sóc y tế chất lượng cao, nghỉ dưỡng và các phúc lợi khác. Cách làm này vừa cải thiện điều kiện làm việc, vừa tạo môi trường thuận lợi để nhân tài cống hiến lâu dài.
Thứ hai, huy động nguồn lực tư nhân đầu tư các công trình công cộng theo nguyên tắc “Tư nhân đầu tư - Nhà nước sở hữu - Nhân dân thụ hưởng”. Việc thiếu nguồn vốn trung và dài hạn cho phát triển hạ tầng đang tạo áp lực đối với hệ thống ngân hàng. Do đó, cần xây dựng cơ chế huy động sự đóng góp của doanh nghiệp, cá nhân có tiềm lực và kiều bào; đồng thời phát huy tinh thần tương thân tương ái, trách nhiệm với cộng đồng. Những chương trình xã hội hóa xây dựng cầu dân sinh, cải thiện hạ tầng vùng sâu, vùng xa có thể trở thành mô hình tiêu biểu. Nhà nước cần giữ vai trò thiết lập thể chế, giám sát chất lượng, tiến độ công trình và có hình thức tôn vinh phù hợp đối với các nhà tài trợ.
Thứ ba, đổi mới phương thức phát hành trái phiếu công trình gắn với chia sẻ lợi ích từ dịch vụ. Bên cạnh mức lãi suất hợp lý, có thể nghiên cứu cơ chế ưu đãi sử dụng công trình đối với người mua trái phiếu, công trái và gia đình họ. Chẳng hạn giảm giá hoặc miễn phí sử dụng dịch vụ trong thời hạn nhất định, phù hợp với điều kiện vận hành và hiệu quả của dự án.
Việc gắn lợi ích thiết thực với sự đóng góp sẽ khuyến khích người dân tham gia huy động vốn phát triển hạ tầng, đồng thời tăng cường sự gắn kết giữa nhà nước và nhân dân. Việc mở rộng và linh hoạt vận dụng mô hình kinh tế chia sẻ sẽ góp phần khơi thông các nguồn lực, giảm áp lực lên ngân sách nhà nước, tạo thêm động lực cho đầu tư phát triển, qua đó thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.

