Chính sách và cuộc sống

Tạo động lực phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Quỳnh Chi 08/08/2026 06:55

Dự luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được các đại biểu Quốc hội đánh giá cao bởi những đề xuất cắt giảm quyết liệt về thủ tục hành chính, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Dù vậy, một số ý kiến cũng cho rằng, dự luật mới chủ yếu xử lý những điểm nghẽn về kỹ thuật quản lý, trong khi vấn đề lớn hơn nằm ở tư duy thể chế.

Tại phiên thảo luận tổ về dự luật này, ĐBQH Đặng Ngọc Huy (Quảng Ngãi) đặt ra một câu hỏi rất đáng chú ý: chúng ta sửa Luật để quản lý tốt hơn hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, hay để hình thành một thị trường lao động quốc tế có sức cạnh tranh của Việt Nam?

Đây cũng là câu hỏi có ý nghĩa quyết định toàn bộ dự luật sẽ được thiết kế cụ thể như thế nào. Nếu mục tiêu chủ yếu là quản lý, dự luật sẽ tiếp tục tập trung vào điều kiện kinh doanh, cấp phép, kiểm soát hoạt động và xử lý vi phạm. Đây là những yêu cầu không thể thiếu bởi lĩnh vực này luôn tiềm ẩn nguy cơ môi giới trái phép, lừa đảo, mua bán người và xâm hại quyền lợi người lao động.

Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đi làm việc theo hợp đồng. Ảnh: Hồ Long

Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vẫn sẽ được nhìn như một chính sách giải quyết việc làm cần kiểm soát, thay vì một động lực phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Trong khi đó, bối cảnh phát triển hiện nay đã thay đổi rất nhiều.

Sự già hóa dân số tại nhiều quốc gia cùng tình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng đang làm thay đổi cấu trúc thị trường lao động toàn cầu. Cạnh tranh không còn chủ yếu dựa vào chi phí lao động thấp mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng nhân lực quốc tế, nếu có một khuôn khổ pháp lý đủ tầm để thúc đẩy quá trình đó.

Chính vì vậy, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cần được nhìn nhận không chỉ là một chính sách việc làm hay một nguồn thu ngoại tệ, mà như đề xuất của đại biểu Quốc hội, "phải là một bộ phận của chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia và chủ động tham gia thị trường lao động quốc tế". Tư duy này không chỉ định hướng cho hoạt động quản lý, mà còn quyết định cách thiết kế toàn bộ hệ thống chính sách của dự luật.

Từ tư duy này, vai trò của Nhà nước cần được nhìn nhận lại. Một Nhà nước kiến tạo phải tạo lập môi trường pháp lý đủ mạnh để thị trường phát triển, doanh nghiệp đủ điều kiện mở rộng thị trường lao động quốc tế và người lao động có cơ hội nâng cao giá trị của mình.

Đồng thời, cách tiếp cận đối với doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng phải khác đi. Theo đó, doanh nghiệp không chỉ là đối tượng quản lý mà còn là chủ thể phát triển thị trường. Muốn có những hợp đồng có giá trị cao phải có doanh nghiệp đủ năng lực; muốn nâng cao chất lượng lao động Việt Nam phải có doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư dài hạn vào đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng nghề. Thể chế cần chuyển mạnh từ quản lý bằng điều kiện đầu vào sang quản lý bằng mức độ tuân thủ pháp luật, chất lượng dịch vụ và hiệu quả bảo vệ người lao động.

Chính sách đối với người lao động cũng cần thay đổi. Bảo vệ người lao động không chỉ là xử lý tranh chấp hay hỗ trợ khi xảy ra rủi ro. Điều quan trọng hơn, như đề xuất của đại biểu Đặng Ngọc Huy là thiết kế một chu trình phát triển hoàn chỉnh, từ tuyển chọn, đào tạo, làm việc ở nước ngoài đến khi trở về nước. Trong chu trình đó, việc công nhận kỹ năng nghề, chuyển đổi chứng chỉ, kết nối việc làm hay hỗ trợ khởi nghiệp đều có ý nghĩa quyết định để người lao động tiếp tục phát huy giá trị sau khi hoàn thành hợp đồng và về nước.

Trong nhiều năm, thành công của hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thường được đo bằng số lượng lao động và lượng kiều hối gửi về. Nhưng trong nền kinh tế tri thức, tài sản có giá trị lâu dài hơn chính là vốn con người với các kỹ năng nghề, tác phong công nghiệp, kinh nghiệm làm việc trong môi trường quốc tế và khả năng sử dụng ngoại ngữ... mà người lao động tích luỹ được.

Bởi vậy, yêu cầu sửa đổi Luật lần này không chỉ là sửa bao nhiêu điều luật, cắt giảm bao nhiêu thủ tục, lập thêm bao nhiêu cơ chế bảo vệ người lao động mà là lựa chọn một triết lý phát triển với việc chuyển từ tư duy quản lý hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài sang tư duy phát triển nguồn nhân lực quốc gia thông qua sự tham gia chủ động vào thị trường lao động quốc tế.

Khi đó, Luật không chỉ góp phần đưa nhiều người lao động ra nước ngoài hơn, mà còn góp phần xây dựng một lực lượng lao động Việt Nam có năng lực cạnh tranh toàn cầu, trở thành nguồn lực chất lượng cao phục vụ phát triển đất nước khi trở về.

    Tạo động lực phát triển nguồn nhân lực quốc gia
    • Mặc định