Tăng cường giám sát, bảo đảm chất lượng trợ giúp pháp lý
Để thực hiện hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý, các Ủy viên UBTVQH đề nghị, cần gắn mở rộng đối tượng thụ hưởng với bảo đảm nguồn lực thực hiện; đổi mới cách thức đánh giá hiệu quả trợ giúp pháp lý theo hướng coi trọng chất lượng; tăng cường giám sát của cơ quan dân cử, MTTQ, các tổ chức đoàn thể và người dân…

Nâng chất lượng trợ giúp pháp lý nhưng cần lộ trình phù hợp
Trên nguyên tắc lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý làm trung tâm, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý đã đề xuất nhiều nội dung quan trọng nhằm mở rộng đối tượng thụ hưởng, kiện toàn đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý.
Một trong những điểm đáng chú ý là việc mở rộng nguồn nhân lực tham gia trợ giúp pháp lý. Theo đó, dự thảo Luật bổ sung nhóm viên chức nhà nước có bằng cử nhân luật, có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm công tác pháp luật và được cơ quan công tác chấp thuận bằng văn bản. Quy định này nhằm thu hút nguồn lực có trình độ, kinh nghiệm tham gia, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Dự thảo Luật cũng sửa đổi điều kiện thành lập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý theo hướng linh hoạt hơn, không còn giới hạn chỉ tại các huyện có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện hoặc chưa có tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý. Theo đó, Chủ tịch UBND cấp tỉnh được giao căn cứ điều kiện thực tế để quyết định việc thành lập và địa bàn đặt Chi nhánh.
Dự thảo Luật cũng bổ sung quy định về phạm vi thực hiện trợ giúp pháp lý đối với các vụ việc do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh, thành phố khác chuyển đến khi được cơ quan tiến hành tố tụng tại địa phương tiếp nhận, giải quyết.

Từ thực tiễn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn nhấn mạnh, việc mở rộng đối tượng thụ hưởng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi đôi với bảo đảm nguồn lực thực hiện. Đặc biệt, việc phát triển đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý, nhất là cộng tác viên, có ý nghĩa then chốt đối với các địa bàn rộng, dân cư phân tán, giao thông khó khăn hoặc các địa phương sau sắp xếp đơn vị hành chính.
Thực tế cho thấy, trợ giúp pháp lý không dừng ở quy định trên văn bản mà phải bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ ngay tại nơi người dân sinh sống. Nếu không giải quyết được bài toán nhân lực và tổ chức ở cơ sở, việc mở rộng đối tượng rất dễ dẫn đến tình trạng “quyền có mà khó sử dụng”, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, người yếu thế - những đối tượng mà chính sách này hướng tới.
Cùng quan điểm, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải tán thành với việc chuẩn hóa tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý tại Điều 19 thông qua yêu cầu phải có chứng chỉ đào tạo nghề luật sư. Tuy nhiên, Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Thanh Hải cũng chỉ ra thực tế, quy định này sẽ gây tác động đến sự ổn định của đội ngũ hiện tại, đặc biệt là gây ra nguy cơ thiếu hụt nhân lực cục bộ tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Để bảo đảm hiệu quả trong thực thi, Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Thanh Hải đề nghị quy định rõ lộ trình chuyển tiếp hợp lý, tối thiểu là 2 năm; bổ sung cơ chế giám sát và đánh giá chất lượng vụ việc độc lập với sự tham gia của đại diện Đoàn luật sư hoặc cơ quan tư pháp khác thay vì chỉ dừng ở quy trình thẩm định nội bộ nhằm bảo đảm tính khách quan.
Bảo đảm “liên thông thật” giữa các hệ thống cơ sở dữ liệu
Một điểm mới khác của dự thảo Luật là bổ sung trách nhiệm của Chính phủ, đặc biệt là Bộ Tư pháp, trong việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số và triển khai chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý. Theo đó, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý sẽ được xây dựng, quản lý, vận hành và nâng cấp thường xuyên; đồng thời thực hiện kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu với Cổng Pháp luật quốc gia.

Tán thành với hướng sửa đổi này, song Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Thanh Hải cho rằng, cần làm rõ tiến độ kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa Cổng Pháp luật quốc gia với các cơ sở dữ liệu nền tảng như Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, VNeID, cơ sở dữ liệu tư pháp, hộ tịch.
“Việc chuyển sang Cổng Pháp luật quốc gia chỉ thực sự có ý nghĩa khi bảo đảm liên thông, chia sẻ dữ liệu một cách thực chất. Mục tiêu không chỉ dừng ở số hóa hồ sơ mà quan trọng hơn là giảm gánh nặng chứng minh cho người dân, nâng cao hiệu quả cải cách hành chính trong bối cảnh chuyển đổi số”, Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh.
Một số ý kiến đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về giá trị pháp lý tương đương giữa hồ sơ, chứng từ điện tử, chữ ký số với bản giấy trong hoạt động trợ giúp pháp lý; cho phép số hóa toàn trình từ tiếp nhận yêu cầu đến nghiệm thu, thanh quyết toán nhằm tạo đột phá trong cắt giảm thủ tục, giấy tờ. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích trợ giúp viên pháp lý tham gia các phiên tòa trực tuyến, góp phần giảm chi phí, hạn chế di chuyển, qua đó hỗ trợ mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong lĩnh vực tư pháp.
Qua thảo luận có thể thấy, UBTVQH cơ bản tán thành nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung của dự thảo Luật, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu xuyên suốt: việc mở rộng đối tượng thụ hưởng phải gắn với bảo đảm nguồn lực thực hiện; tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước và huy động hiệu quả nguồn lực xã hội.
UBTVQH cũng đề nghị, quy định rõ nội dung chuyển tiếp tại dự thảo Luật; đổi mới phương thức đánh giá theo hướng coi trọng chất lượng; tăng cường giám sát của cơ quan dân cử, MTTQ, các tổ chức đoàn thể và người dân, nhằm bảo đảm tính khả thi, công bằng và hiệu quả khi Luật được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành.

