Quốc hội và Cử tri

Sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảoKhơi thông nguồn lực cho phát triển kinh tế biển

Nhật An 28/06/2026 22:06

Trong chiến lược nắm giữ vai trò doanh nghiệp nòng cốt trong phát triển kinh tế biển quốc gia, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC) đối mặt với một số vướng mắc về pháp lý. Việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo tới đây với đề xuất cho phép thế chấp, chuyển nhượng và cho thuê lại quyền sử dụng khu vực biển được xem là đề xuất mang tính bước ngoặt nhằm khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế biển.

Cần cơ chế đủ sức cạnh tranh với các trung tâm trung chuyển khu vực

Báo cáo của VIMC cho biết, thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, VIMC đã xác định đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng hàng hải đồng bộ, hiện đại là nhiệm vụ chiến lược nhằm giữ vai trò doanh nghiệp nòng cốt trong phát triển kinh tế biển quốc gia.

toan-canh (1)
Toàn cảnh cuộc làm việc. Ảnh: Hồ Long

Trong Chiến lược phát triển VIMC giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035 và định hướng đầu tư giai đoạn 2026 - 2030, VIMC tập trung vào 3 trụ cột chiến lược, gồm: phát triển hệ thống cảng biển nước sâu và cảng trung chuyển quốc tế, nhằm từng bước đưa Việt Nam trở thành điểm trung chuyển hàng hóa quan trọng của khu vực; phát triển đội tàu vận tải biển, ưu tiên đội tàu container xanh, hiện đại nhằm gia tăng khả năng tham gia chuỗi vận tải biển quốc tế, giảm sự phụ thuộc vào các hãng tàu nước ngoài, đáp ứng xu hướng chuyển đổi xanh của ngành hàng hải; phát triển hệ thống logistics và dịch vụ hậu cần sau cảng nhằm tạo thành chuỗi dịch vụ khép kín từ nơi sản xuất đến thị trường tiêu thụ quốc tế. Qua đó, VIMC chuyển đổi từ mô hình doanh nghiệp khai thác cảng truyền thống sang nhà cung cấp hệ sinh thái “Cảng biển - Vận tải biển - Logistics tích hợp”.

Mặc dù chiến lược phát triển cảng trung chuyển quốc tế và logistics đã được xác định rõ, song Phó Tổng giám đốc VIMC Nguyễn Ngọc Ánh cũng cho biết, quá trình triển khai trên thực tế còn một số khó khăn do hệ thống pháp luật điều chỉnh các dự án trên biển còn phân tán. Các dự án cảng biển quy mô lớn thường phải thực hiện đồng thời nhiều thủ tục liên quan đến giao khu vực biển, đánh giá tác động môi trường, đất đai, đầu tư, xây dựng, quy hoạch, phòng, chống thiên tai và các thủ tục chuyên ngành khác. Việc nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý làm kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư và làm tăng chi phí của doanh nghiệp.

Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam Nguyễn Ngọc Ánh
Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam Nguyễn Ngọc Ánh báo cáo. Ảnh: Hồ Long

Bên cạnh đó, chưa có cơ chế đặc thù đối với cảng trung chuyển quốc tế. Cụ thể, chưa có khung chính sách cho Khu thương mại tự do, chính sách thuế và phí cạnh tranh quốc tế, cơ chế thu hút hãng tàu và nhà khai thác cảng toàn cầu, chính sách thử nghiệm các mô hình kinh doanh mới. Mặt khác, hạ tầng kết nối hậu phương như hệ thống đường sắt kết nối cảng, cảng thủy nội địa, ICD và mạng lưới logistics cần tiếp tục đầu tư để đáp ứng yêu cầu khai thác các cảng quy mô lớn.

Xuất phát từ thực tế đó, đại diện VIMC kiến nghị, xây dựng cơ chế “một cửa - một đầu mối” trong giải quyết thủ tục đầu tư các dự án hạ tầng hàng hải trên biển; hoàn thiện quy định về giao, sử dụng khu vực biển, bảo đảm thống nhất giữa pháp luật về tài nguyên môi trường biển, đầu tư, đất đai và xây dựng; xây dựng cơ chế pháp lý cho mô hình khu thương mại tự do gắn với cảng trung chuyển quốc tế; có chính sách ưu đãi về thuế, phí, lệ phí và cơ chế tài chính đủ sức cạnh tranh với các trung tâm trung chuyển trong khu vực.

Tạo cơ chế huy động vốn cho phát triển kinh tế biển

ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Ngô Sỹ Cường cho biết, một trong những mục tiêu sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo lần này nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ, minh bạch, hiện đại cho quản lý tổng hợp, khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, không gian biển, thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế trên biển, hải đảo, góp phần vào hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng “hai con số” trong giai đoạn 2026 - 2031.

Ủy viên Chuyên trách Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Ngô Sỹ Cường
ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Ngô Sỹ Cường phát biểu. Ảnh: Hồ Long

Dự thảo Luật dự kiến bổ sung quy định mới về quản lý không gian biển, sử dụng đa mục đích, giải quyết xung đột không gian và phân định trách nhiệm hành chính trên biển. Một trong những nội dung chính sách đáng chú ý là dự thảo Luật cho phép tổ chức, cá nhân được giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển trong nội thủy, lãnh hải có quyền chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp bằng quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền với khu vực biển khi đáp ứng điều kiện do Luật này và pháp luật có liên quan quy định; đồng thời, hạn chế các quyền này ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa để bảo vệ chủ quyền.

Việc luật hóa cơ chế thế chấp quyền sử dụng khu vực biển được xem như một trong những giải pháp quan trọng nhằm tháo gỡ điểm nghẽn cho các tổ chức, cá nhân được giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển trong huy động vốn phục vụ các mục đích phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, các đại biểu cho rằng, chính sách "mở" cần đi đôi với sự kiểm soát chặt.

Làm rõ thêm nội dung này, đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Thanh Tùng cho biết, việc trao quyền cho các chủ thể trong sử dụng không gian biển sẽ được quy định bằng nhiều hình thức phù hợp như giao, cho thuê, đăng ký sử dụng và phải phù hợp với đặc thù cũng như chế độ pháp lý của các vùng biển; đi liền với việc mở rộng quyền của các chủ thể sẽ là nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân khi được giao vùng biển.

Phó Cục trưởng Cục Biển và hải đảo Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Thanh Tùng
Phó Cục trưởng Cục Biển và hải đảo Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Thanh Tùng phát biểu. Ảnh: Hồ Long

Đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng cho biết, cơ quan soạn thảo đề xuất mô hình cho thuê lại khu vực biển để doanh nghiệp có thể linh hoạt trong sản xuất kinh doanh, qua đó thu hút các nhà đầu có tiềm lực đầu tư phát triển các cụm, khu sản xuất kinh doanh tập trung trên biển. "Anh bỏ ra đầu tư khu vực đó, anh chỉ làm hạ tầng thôi; sau đấy anh sẽ cho thuê lại vùng biển đấy cho những người có kinh nghiệm chuyên môn như trong nuôi biển công nghệ cao để phát triển quy mô lớn”, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết.

Đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẳng định, các quy định này sẽ được thiết kế cẩn trọng nhằm kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quyền tài sản tại các khu vực nhạy cảm, đặc biệt là hạn chế chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân nước ngoài để bảo đảm chủ quyền quốc gia. Bên cạnh đó, việc phân định rõ hình thức "giao biển" ở vùng nội thủy và "đăng ký sử dụng" ở vùng đặc quyền kinh tế sẽ bảo đảm tính tương thích với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982).

    Nổi bật
        Mới nhất
        Sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Khơi thông nguồn lực cho phát triển kinh tế biển
        • Mặc định