Sơ kết một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp tại Quảng NgãiBài 2: Gỡ “điểm nghẽn” về biên chế, thể chế và hạ tầng công nghệ
Bên cạnh những kết quả quan trọng bước đầu sau một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, thực tiễn tại tỉnh Quảng Ngãi cũng bộc lộ không ít khó khăn, bất cập. Việc nhận diện chính xác các “điểm nghẽn” về áp lực biên chế, sự chưa đồng bộ về thể chế và hạ tầng công nghệ là cơ sở quan trọng để tỉnh đề xuất các giải pháp tháo gỡ căn cơ, nhằm đưa mô hình quản trị mới đi vào chiều sâu, hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn.
Sau một năm triển khai, dù bộ máy đã vận hành ổn định, theo báo cáo sơ kết của Tỉnh ủy Quảng Ngãi, hệ thống vẫn đang phải đối mặt với những thách thức lớn khi các quy định pháp luật và nguồn lực chưa tương xứng với nhiệm vụ được phân cấp.
Áp lực nhân sự và những vướng mắc về thể chế tại cơ sở
Theo báo cáo của Đảng ủy UBND tỉnh, “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay chính là năng lực thực thi và sự quá tải công việc tại cấp xã. Khi không còn cấp huyện, khối lượng nhiệm vụ từ Trung ương và tỉnh chuyển trực tiếp về cơ sở tăng mạnh. Điển hình tại xã Kon Braih, báo cáo của UBND xã cho biết, đã phải tiếp nhận và thực hiện tổng cộng 443 nhiệm vụ chuyên môn kể từ ngày 1/7/2025, trong đó có 268 nhiệm vụ từ cấp tỉnh chuyển về. Thực tế này dẫn đến việc nhiều công chức phải kiêm nhiệm từ 2 - 3 lĩnh vực khác nhau, bình quân mỗi phòng chuyên môn cấp xã phải theo dõi và phối hợp với 5 - 6 sở, ngành cấp tỉnh.

Trong khi khối lượng việc tăng, số lượng biên chế lại bị giới hạn bởi các khung định hướng chung. Đại diện lãnh đạo phường Đức Phổ cho biết, mặc dù là địa bàn có dân số hơn 41.000 người nhưng số lượng biên chế giao chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nhất là tại các bộ phận như Ban Xây dựng Đảng hay Phòng Kinh tế - Hạ tầng và Đô thị. Hệ quả là chất lượng tham mưu có lúc còn hạn chế, tiến độ xử lý công việc đôi khi chưa bảo đảm quy định. Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ chưa đồng đều; một bộ phận cán bộ cấp xã, đặc biệt là cán bộ lớn tuổi và người dân tộc thiểu số còn hạn chế về kỹ năng số, lúng túng trong việc xử lý văn bản trên môi trường điện tử.
Về mặt thể chế, theo tổng hợp của UBND tỉnh, sự chưa tương thích giữa mô hình 2 cấp với các quy định pháp luật hiện hành đang gây ra nhiều xung đột thẩm quyền. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện nay phần lớn vẫn thiết kế theo 3 cấp hành chính (tỉnh - huyện - xã), dẫn đến nhiệm vụ được giao cho cấp xã nhưng quy trình nghiệp vụ lại bị nghẽn do thiếu cấp huyện phê duyệt hoặc hướng dẫn.
Thách thức về hạ tầng, quản lý tài sản công dôi dư
Hạ tầng công nghệ thông tin và công tác lưu trữ hồ sơ là một "nút thắt" lớn khác được chỉ ra sau một năm vận hành. Theo báo cáo của Tỉnh ủy, khối lượng tài liệu từ cấp huyện cũ chuyển về là khổng lồ với khoảng 84.092 mét giá tài liệu (đơn vị đo lường trong lưu trữ tài liệu), trong đó hơn 52.500 mét chưa được chỉnh lý. UBND tỉnh đã đề nghị Trung ương hỗ trợ kinh phí khoảng 454 tỷ đồng để số hóa khối tài liệu này, đến nay vẫn chưa được bố trí nguồn lực. Tại các xã vùng sâu, vùng xa, hạ tầng viễn thông còn hạn chế, trang thiết bị máy tính tại bộ phận Một cửa phần lớn đã cũ, cấu hình thấp, không đáp ứng được yêu cầu cài đặt các phần mềm chuyên ngành và thực hiện chuyển đổi số toàn diện.

Công tác quản lý tài sản công dôi dư sau sáp nhập cũng đang gặp nhiều trở ngại. Theo Sở Tài chính Quảng Ngãi, toàn tỉnh có 991 cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp. Dù tỉnh đã nỗ lực xử lý, nhưng hiện vẫn còn 347 cơ sở chưa hoàn thành việc xử lý, khai thác sau chuyển giao. Nguyên nhân chủ yếu do nguồn nhân lực quản lý tài sản công tại cấp xã mỏng, thiếu kinh nghiệm nghiệp vụ. Nhiều trụ sở cũ đã xuống cấp nghiêm trọng, nằm rải rác nên không thuận lợi cho việc định hướng sử dụng hoặc thu hút đầu tư...
Tại hội nghị sơ kết một năm thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp mới đây, tỉnh Quảng Ngãi đã đề ra các nhóm giải pháp trọng tâm, đồng thời kiến nghị nhiều nội dung quan trọng. Trong đó, kiến nghị Trung ương sớm giao chỉ tiêu biên chế chính thức theo hướng linh hoạt, căn cứ trên quy mô dân số, diện tích tự nhiên và khối lượng công việc thực tế của từng địa phương thay vì "cào bằng". Cần đẩy nhanh lộ trình cải cách tiền lương và đặc biệt là kiến nghị thống nhất cho cán bộ, công chức khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cấp xã được hưởng phụ cấp đặc thù 30% như cấp tỉnh để ổn định tư tưởng đội ngũ.
Để nâng cao năng lực thực thi, tỉnh xác định tăng cường đào tạo chuyên sâu theo hình thức “cầm tay chỉ việc”, ưu tiên các lĩnh vực đang thiếu hụt nhân lực chuyên môn như địa chính, quy hoạch, công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
Về thể chế, tỉnh kiến nghị Quốc hội và Chính phủ khẩn trương rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa cấp tỉnh và cấp xã trong các lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phải đi đôi với phân bổ nguồn lực và điều kiện bảo đảm thực hiện, tránh tình trạng “giao việc nhưng không giao đủ điều kiện”. Ngoài ra, địa phương cũng đề xuất các cơ chế đặc thù đẩy nhanh tiến độ xử lý tài sản công dôi dư và tháo gỡ khó khăn cho các dự án đầu tư ngoài ngân sách theo tinh thần các nghị quyết mới của Quốc hội và Chính phủ.

