Rối loạn lo âu tuổi học đường, khi áp lực âm thầm trở thành bệnh lý
Từng nhiều năm là học sinh giỏi, đỗ vào trường cấp 3 mơ ước, nữ sinh 16 tuổi vẫn thường xuyên lo sợ, mất ngủ, chán ăn, học tập sa sút và mất kinh ba tháng. Sau khi loại trừ các bệnh lý thực thể, người bệnh được chẩn đoán rối loạn lo âu.
Áp lực học tập không phải yếu tố duy nhất gây rối loạn lo âu tuổi học đường
Đó là trường hợp bệnh nhân N.T.H (nữ, 16 tuổi) nhập Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai. Theo đó, sau kỳ thi vào lớp 10, người bệnh bắt đầu đau đầu, chóng mặt và khó ngủ. Dù đỗ vào ngôi trường mong muốn, tình trạng lo lắng không giảm.
Bước vào năm học mới, nữ sinh thường xuyên hồi hộp, bồn chồn, bất an. Lo sợ bạn bè không thích mình, sợ trở thành gánh nặng tài chính cho cha mẹ, mặc dù kết quả học tập vẫn tốt và gia đình không gặp khó khăn về kinh tế.
Tình trạng mất ngủ ngày càng kéo dài. Có những đêm nữ sinh thức đến 2-3h sáng, nhưng không chia sẻ với bố mẹ vì sợ họ lo lắng. Thiếu ngủ khiến bệnh nhân mệt mỏi, dễ cáu gắt, chán ăn, kết quả học tập giảm sút.
Ba tháng liên tiếp, nữ sinh H không có kinh nguyệt, kèm buồn nôn. Lo lắng, gia đình đưa bệnh nhân đi khám sản khoa, kiểm tra các nguyên nhân thực thể. Kết quả xét nghiệm và chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não không phát hiện bất thường. Sau đó, bệnh nhân được chuyển đến chuyên khoa Tâm thần.

ThS.BS Nguyễn Kim Anh - Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, các biểu hiện của bệnh nhân H phù hợp với rối loạn lo âu ở lứa tuổi học sinh. Bởi trẻ vị thành niên đôi khi chưa biết cách diễn đạt những vấn đề tâm lý bằng lời. Lo âu có thể biểu hiện qua các triệu chứng cơ thể như đau đầu, mất ngủ, rối loạn tiêu hóa hoặc những thay đổi về chức năng cơ thể.
Người bệnh được điều trị phối hợp thuốc và liệu pháp nhận thức - hành vi (CBT). Sau 6 tháng, tình trạng của người bệnh dần cải thiện.
Theo ThS.BS Nguyễn Ngọc Trang - Viện Sức khỏe Tâm thần, lo âu là phản ứng tự nhiên trước những tình huống thử thách, có thể giúp con người chuẩn bị và thích nghi với các sự kiện như thi cử, thuyết trình.
Tuy nhiên, nếu lo âu quá mức so với hoàn cảnh thực tế, kéo dài nhiều tuần hoặc nhiều tháng, đồng thời ảnh hưởng đến học tập, sinh hoạt và các mối quan hệ, đây có thể là biểu hiện của rối loạn lo âu.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thống kê, khoảng một trong bảy trẻ em và thanh thiếu niên 10-19 tuổi đang gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần. Rối loạn lo âu là một trong những nhóm rối loạn phổ biến ở lứa tuổi này.
Trong đó, áp lực học tập không phải yếu tố duy nhất. Đặc điểm tính cách, lòng tự trọng, kỳ vọng của gia đình, môi trường cạnh tranh ở trường học và áp lực so sánh bản thân trên mạng xã hội đều có thể góp phần làm gia tăng căng thẳng tâm lý ở trẻ.
Đáng chú ý, một số trẻ không trực tiếp nói rằng mình đang lo lắng mà thể hiện qua thay đổi về giấc ngủ, ăn uống, kết quả học tập, hành vi hoặc các triệu chứng cơ thể.
Cha mẹ cần nhận diện sớm bệnh lý
PGS.TS.BS Nguyễn Văn Tuấn - Viện trưởng Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai cho rằng, đưa trẻ đi khám tâm lý hoặc tâm thần không phải là “gắn nhãn” cho trẻ mà là cách giúp phát hiện vấn đề và can thiệp đúng lúc.
Một số phụ huynh khi thấy con đau đầu, mất ngủ, cáu gắt hoặc giảm hứng thú học tập có thể cho rằng trẻ lười học, giả vờ hoặc chỉ đang trải qua những thay đổi thông thường của tuổi dậy thì. Nếu những dấu hiệu này bị bỏ qua, trẻ có thể ngày càng thu mình và khó chia sẻ vấn đề với gia đình.
Để bảo vệ sức khỏe tâm thần của trẻ, cần sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cơ sở y tế. Cha mẹ nên lắng nghe và tôn trọng cảm xúc của con, tránh phủ nhận bằng những câu như “Có gì đâu mà phải lo”. Đồng thời, kỳ vọng về học tập cũng cần phù hợp với năng lực của trẻ, đồng thời ghi nhận sự nỗ lực thay vì chỉ chú trọng điểm số.
Mặt khác, trẻ cần duy trì chế độ sinh hoạt lành mạnh, ngủ đủ, hạn chế sử dụng điện thoại vào ban đêm, ăn uống đầy đủ và vận động thường xuyên.
Bác sĩ khuyến cáo, phụ huynh cũng cần lưu ý những thay đổi kéo dài như lo âu nhiều tuần, mất ngủ thường xuyên, kết quả học tập giảm sút đột ngột, thu mình khỏi gia đình và bạn bè hoặc thường xuyên đau đầu, đau bụng nhưng chưa tìm thấy nguyên nhân thực thể.
Khi các biểu hiện kéo dài hoặc ảnh hưởng đến học tập, sinh hoạt và cuộc sống, trẻ nên được đưa đến cơ sở y tế có chuyên khoa tâm thần hoặc tâm lý để được đánh giá.
“Sức khỏe tâm thần là một phần không thể tách rời của sức khỏe toàn diện. Sự đồng hành kịp thời của gia đình và ngành y tế là điểm tựa giúp các em vượt qua khó khăn tâm lý và phát triển khỏe mạnh”, PGS.TS.BS Nguyễn Văn Tuấn thông tin.

