Quy định chặt chẽ tiêu chí xác định dự án, công trình điện lực cấp bách
Cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, các Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) chuyên trách đề nghị, cần quy định chặt chẽ tiêu chí xác định dự án, công trình điện lực cấp bách, điều kiện lựa chọn. Tăng cường điều kiện kiểm soát, nhất là đối với các cơ chế liên quan đến bảo lãnh của Chính phủ...
Chuyển từ cơ chế khuyến khích ưu tiên sang chính sách cụ thể
Điện là đầu vào thiết yếu của nền kinh tế, đồng thời cũng gắn với sinh hoạt hằng ngày của mỗi gia đình. Do đó, tại Hội nghị ĐBQH hoạt động chuyên trách lần thứ nhất, các đại biểu cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Theo các đại biểu, cần một cơ chế đủ sức huy động đầu tư để phát triển nguồn điện, lưới điện, bảo đảm cung cấp điện ổn định và an ninh năng lượng quốc gia. Song, cũng chính vì tính thiết yếu đó mọi thay đổi cũng cần được xem xét hết sức thận trọng dưới góc độ quyền lợi của người sử dụng điện và quyền lợi của quốc gia.
.jpg)
Đối với quy định về chính sách của Nhà nước về phát triển điện lực, dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung các khoản 6, 7, 8, 9 tại Điều 5 theo hướng Nhà nước có cơ chế, chính sách ưu tiên phát triển, huy động thực hiện các chính sách phát triển điện lực nhằm mục tiêu đáp ứng đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội và trên cơ sở có được giá bán điện hợp lý, tạo sự cạnh tranh, hệ thống điện vận hành an toàn, giảm phát thải.
Tuy nhiên, theo ĐBQH Đặng Bích Ngọc (Phú Thọ), các chính sách của Nhà nước được quy định trong dự thảo Luật còn chung chung, rất khó thực hiện. Cụ thể là cơ chế gì để có thể huy động các nguồn lực? Nhà đầu tư sẽ được hưởng cơ chế nào, điều kiện hưởng, cơ quan thực hiện, các vấn đề rủi ro xảy ra cũng chưa xác định cụ thể.
Vì vậy, đại biểu Đặng Bích Ngọc đề nghị, nên xem xét và quy định trong dự thảo Luật theo hướng chuyển từ cơ chế khuyến khích ưu tiên sang chính sách cụ thể, có công cụ để tổ chức thực hiện. Mỗi nội dung điều, khoản nên có quy định đối tượng áp dụng, hình thức hỗ trợ, điều kiện và cơ chế chuyển tiếp. Có như vậy, các quy định khi ban hành sẽ dễ thực hiện, bảo đảm đúng mục tiêu của việc sửa đổi luật, giúp các chính sách của Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

“Đặc biệt khi chúng ta đang mở rộng thu hút đầu tư, vấn đề bảo đảm an ninh năng lượng đóng vai trò rất quan trọng, sẽ góp phần để thu hút các nhà đầu tư chiến lược đầu tư vào Việt Nam. Trường hợp dự thảo Luật không quy định cụ thể nội dung này thì nên giao Chính phủ quy định chi tiết các danh mục chính sách để tổ chức thực hiện, bảo đảm đầy đủ, linh hoạt, kịp thời, phù hợp với yêu cầu phát triển trong từng thời kỳ”, đại biểu Đặng Bích Ngọc nêu rõ.
Cũng có ý kiến đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, bổ sung vào dự thảo Luật quy định giao Chính phủ ban hành cơ chế đặc thù cho phép cam kết tỷ lệ sản lượng điện bao tiêu tối thiểu dài hạn một cách thích hợp và cơ chế chuyển đổi giá nhiên liệu đầu vào vào giá bán điện trong hợp đồng mua bán điện đã được ký kết. Việc luật hóa sẽ tạo hành lang minh bạch, tránh cơ chế xin cho tách biệt của từng dự án, ngăn ngừa tiêu cực và rủi ro pháp lý cho cơ quan quản lý.
Tăng cường điều kiện kiểm soát
Liên quan đến dự án, công trình điện lực cấp bách, Điều 14 dự thảo Luật quy định theo hướng phân loại, chỉ quy định các trường hợp cấp bách nhằm phòng ngừa các nguy cơ thiếu điện hoặc quá tải điện lưới. Tuy nhiên, đại biểu Đặng Bích Ngọc cho rằng, nên quy định trong dự thảo Luật các điều kiện để xác định dự án cấp bách, làm cơ sở cho Chính phủ tiếp tục quy định chi tiết nội dung này.
Mặt khác, để huy động nguồn lực và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án cần thiết, bảo đảm an ninh cung cấp điện, dự thảo Luật cần quy định chặt chẽ tiêu chí xác định dự án cấp bách, điều kiện lựa chọn, trách nhiệm kiểm soát để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về vấn đề này.
Quan tâm đến cơ chế đặc thù đối với dự án, công trình điện lực cấp bách, ĐBQH Đào Chí Nghĩa (TP. Cần Thơ) nêu rõ, Điều 15 dự thảo Luật mở rộng đối tượng được áp dụng cơ chế đặc thù và các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ sang doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

“Đây là thay đổi cần tiếp tục nghiên cứu”, nêu quan điểm này, đại biểu Đào Chí Nghĩa đề nghị, cùng với việc mở rộng đối tượng, dự thảo Luật cần tăng cường điều kiện kiểm soát, nhất là đối với các cơ chế liên quan đến bảo lãnh của Chính phủ, tín dụng trên cơ sở tiêu chí các dự án cấp bách, hiệu quả đầu tư, an ninh năng lượng, khả năng cân đối nguồn lực, đánh giá rủi ro tài chính.
Các cơ chế bảo lãnh của Chính phủ, cấp tín dụng vượt giới hạn cũng cần được quyết định theo từng dự án, không nên hiểu là quyền đương nhiên khi đáp ứng điều kiện về chủ đầu tư. Vì vậy, cần bổ sung quy định đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, việc áp dụng cơ chế đặc thù phải được Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt dự án đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.
Cùng với đó, đại biểu Đào Chí Nghĩa đề nghị làm rõ tiêu chí đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Tại khoản 2 Điều 19 dự thảo Luật quy định, trường hợp đấu thầu có tiêu chuẩn đánh giá về hiệu quả phát triển ngành điện là giá điện và thời hạn hợp đồng mua bán điện thì bên mua điện giao kết hợp đồng với nhà đầu tư trúng thầu. Đại biểu Đào Chí Nghĩa cho rằng, nên quy định theo hướng giá điện và thời hạn hợp đồng là những tiêu chí quan trọng nhưng không phải là tiêu chí duy nhất mà cần phải quan tâm đến các yếu tố như đánh giá tổng thể cả tiến độ, độ tin cậy, an toàn hệ thống, hiệu suất công nghệ, khả năng giải tỏa công suất, bảo vệ môi trường cũng như năng lực của nhà đầu tư.
Nhấn mạnh đây là cơ sở để lựa chọn dự án có hiệu quả lâu dài, không chỉ là chào giá thấp tại thời điểm đấu thầu, đại biểu Đào Chí Nghĩa đề nghị, điều chỉnh theo hướng trường hợp đấu thầu có tiêu chuẩn đánh giá về hiệu quả phát triển ngành điện là giá điện và thời hạn hợp đồng mua bán điện là tiêu chí quan trọng để đánh giá; đồng thời, phải xem xét các tiêu chí về tiến độ thực hiện dự án, độ tin cậy, an toàn hệ thống điện, hiệu suất công nghệ, khả năng giải tỏa công suất, bảo vệ môi trường cũng như năng lực thực hiện của nhà đầu tư theo quy định của Chính phủ.

