Phát hiện sớm nguy cơ ô nhiễm, bảo vệ sức khỏe người dân
Thảo luận tại Tổ 1 (Hà Nội) về dự án luật liên quan đến bảo vệ môi trường, ĐBQH Dương Đức Hải nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy kiểm soát thủ tục sang chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý nguy cơ ô nhiễm từ sớm. Đồng thời, cần làm rõ trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm phân quyền gắn với năng lực thực thi và cơ chế phối hợp xử lý ô nhiễm liên tỉnh, xuyên biên giới.
Chuyển từ tiền kiểm sang chủ động phòng ngừa ô nhiễm
ĐBQH Dương Đức Hải cho rằng, môi trường là vấn đề nóng, luôn nhận được sự quan tâm của người dân. Những vấn đề không được giải quyết triệt để sẽ tiếp tục tồn tại, gây bức xúc trong dư luận. Vì vậy, khi sửa đổi các quy định pháp luật về môi trường, cần đặt trọng tâm vào việc bảo đảm người dân được hưởng điều kiện sống, sức khỏe và sinh hoạt tốt hơn; đồng thời, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và người dân

Theo đại biểu, yêu cầu quan trọng nhất là giảm tiền kiểm nhưng phải đi đôi với nâng cao năng lực phát hiện, ngăn chặn nguy cơ ô nhiễm từ sớm. Đây là điều kiện để vừa tạo thuận lợi cho phát triển, vừa bảo đảm hiệu quả bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, đại biểu đánh giá cao những nội dung dự thảo đã bổ sung, như xác lập hoạt động giám sát ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường; quy định trách nhiệm giám sát của cơ quan có thẩm quyền; đồng thời sửa đổi các quy định theo hướng tăng cường quản lý bằng dữ liệu. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu ứng dụng khoa học, công nghệ và dữ liệu trong quản lý môi trường hiện nay.

Tuy nhiên, theo ĐBQH Dương Đức Hải, vấn đề không chỉ nằm ở việc bổ sung quy định mà quan trọng hơn là tổ chức thực hiện như thế nào để bảo đảm tính thông suốt của quy trình quản lý. Công tác quản trị môi trường phải đủ khả năng phòng ngừa thiệt hại, thay vì chỉ tập trung xử lý khi hậu quả đã xảy ra.
"Thực tế cho thấy, khi nguồn nước đã bị ô nhiễm, các chất độc hại đã phát tán ra môi trường, việc xử lý vi phạm dù nghiêm khắc đến đâu cũng khó khắc phục triệt để những tổn thất đối với môi trường, sinh kế và sức khỏe người dân", ĐBQH Dương Đức Hải đặt vấn đề.
Do đó, đại biểu đề nghị làm rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong toàn bộ quy trình, từ xác minh thông tin, giám sát, triển khai biện pháp phòng ngừa đến theo dõi, đôn đốc việc khắc phục hậu quả. Đặc biệt, cần tránh tình trạng dữ liệu đã phát đi tín hiệu cảnh báo nhưng cơ quan có trách nhiệm phản ứng chậm, khiến nguy cơ tiếp tục gia tăng và gây ra những thiệt hại đáng tiếc.
Bảo đảm việc phân loại dự án phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro môi trường
Để thực hiện hiệu quả yêu cầu nêu trên, ĐBQH Dương Đức Hải đề nghị tập trung vào ba vấn đề. Thứ nhất, cần bảo đảm việc phân loại dự án phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro môi trường trong thực tế. Theo đại biểu, Điều 28 của dự thảo dự kiến xác định các yếu tố nhạy cảm về môi trường, trong đó có những tiêu chí liên quan đến mức độ chiếm dụng đất, mặt nước. Tuy nhiên, việc liệt kê các yếu tố này cần tiếp tục được rà soát để bảo đảm tính đầy đủ, phù hợp với đặc điểm của từng khu vực.
Chẳng hạn, một khu vực không được xác định là nhạy cảm theo các tiêu chí hiện có vẫn có thể chịu tác động từ hoạt động phát thải, ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của khu dân cư. Vì vậy, cần đánh giá kỹ các tiêu chí phân loại dự án trên cơ sở tính chất nguy hại, tải lượng phát thải và đặc điểm môi trường tiếp nhận, qua đó nhận diện đúng nguy cơ và có biện pháp quản lý phù hợp.
Thứ hai, gắn dữ liệu cảnh báo với nghĩa vụ hành động của cơ quan có thẩm quyền. Trên cơ sở các quy định tại Điều 38, Điều 48 và Điều 115 của dự thảo, ĐBQH Dương Đức Hải đề nghị xác định rõ đầu mối xử lý, nghĩa vụ xác minh, yêu cầu phản ứng kịp thời và trách nhiệm giải trình khi chậm hành động.

Các ngưỡng cảnh báo, thời hạn xử lý và quy trình kỹ thuật có thể giao Chính phủ quy định phù hợp với từng mức độ nguy cơ. Đồng thời, cần phân biệt rõ tín hiệu bất thường với kết luận vi phạm, bảo đảm việc kiểm chứng thông tin được thực hiện khách quan, không gây phiền hà cho doanh nghiệp. Theo đại biểu, mục tiêu cuối cùng là chuyển hóa dữ liệu và cảnh báo thành hành động cụ thể, kịp thời, từ đó triển khai các giải pháp phòng ngừa trước khi sự cố môi trường xảy ra hoặc lan rộng.
Thứ ba, bảo đảm nguồn lực thực hiện tương xứng với phương thức quản lý mới. ĐBQH Dương Đức Hải cho rằng việc giảm khối lượng xử lý hồ sơ, tạo điều kiện tổ chức lại nguồn lực là cần thiết, nhưng năng lực thẩm định hồ sơ, phân tích dữ liệu, đánh giá rủi ro, kiểm chứng thông tin và phản ứng tại hiện trường đòi hỏi những điều kiện khác nhau.
Do đó, đại biểu đề nghị làm rõ yêu cầu về nhân lực chuyên môn, kinh phí, hạ tầng và dữ liệu; đồng thời thiết lập cơ chế hỗ trợ phù hợp cho các địa phương. Đối với những cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm cao, cần có cơ chế giám sát phù hợp ngay từ giai đoạn đầu vận hành để kịp thời điều chỉnh công nghệ, công trình và quy trình xử lý khi phát hiện nguy cơ.
Hoàn thiện pháp luật về môi trường phải hướng đến mục tiêu phát hiện nguy cơ sớm hơn, hành động kịp thời hơn và bảo vệ người dân hiệu quả hơn. Việc giảm tiền kiểm, tăng cường phân quyền và ứng dụng dữ liệu chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi kèm cơ chế giám sát chặt chẽ, trách nhiệm rõ ràng và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, địa phương.
ĐBQH Dương Đức Hải (Hà Nội)
Phân quyền phải đi đôi với trách nhiệm bảo vệ người dân
Nội dung thứ hai được ĐBQH Dương Đức Hải đề cập là yêu cầu gắn phân quyền theo địa giới hành chính với cơ chế xác định trách nhiệm rõ ràng trong xử lý ô nhiễm liên tỉnh, xuyên biên giới. Theo đó, dự thảo quy định trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh đối với ô nhiễm thuộc phạm vi quản lý, đồng thời có ngoại lệ đối với nguyên nhân ô nhiễm liên tỉnh và xuyên biên giới. Mục đích của quy định này là bảo đảm trách nhiệm tương xứng với quyền hạn và năng lực kiểm soát. Đây là yêu cầu hợp lý, nhưng cách diễn đạt cần rõ hơn để tránh tình trạng địa phương có thể lúng túng trong thực hiện trách nhiệm khi nguồn ô nhiễm phát sinh từ địa bàn khác.
ĐBQH Dương Đức Hải nhấn mạnh, nguồn ô nhiễm có thể xuất phát từ địa phương này nhưng người dân chịu tác động trực tiếp lại sinh sống tại địa phương khác. Trong trường hợp đó, chính quyền nơi người dân bị ảnh hưởng vẫn phải thực hiện trách nhiệm theo dõi, cảnh báo, bảo vệ người dân và phối hợp với các cơ quan liên quan để xử lý.
Đối với Hà Nội, chất lượng không khí và nguồn nước trên các lưu vực sông có mối liên hệ trực tiếp với địa bàn và hoạt động của nhiều địa phương. Vì vậy, một địa phương khó có thể giải quyết triệt để vấn đề nếu thiếu cơ chế phối hợp và hành động đồng bộ.
Từ thực tế này, đại biểu đề nghị làm rõ hai nội dung. Một là, phân biệt trách nhiệm kiểm soát nguồn ô nhiễm với trách nhiệm bảo vệ người dân trước nguy cơ ô nhiễm. Đối với ô nhiễm liên tỉnh, xuyên biên giới, người đứng đầu địa phương vẫn phải chịu trách nhiệm về việc cảnh báo, kiểm soát nguồn thải thuộc phạm vi quản lý và phối hợp xử lý theo thẩm quyền.
"Việc nguồn ô nhiễm phát sinh ngoài địa giới hành chính không đồng nghĩa với việc địa phương nơi người dân chịu ảnh hưởng không có trách nhiệm hành động. Ngược lại, cần xác định rõ nghĩa vụ bảo vệ người dân, cung cấp thông tin cảnh báo và phối hợp xử lý, bảo đảm các biện pháp ứng phó được triển khai kịp thời", ĐBQH Dương Đức Hải nhấn mạnh.
Hai là, đại biểu cho rằng cần làm rõ căn cứ phân định thẩm quyền và cơ chế giải quyết khi có tác động môi trường liên địa phương. Theo đại biểu, các quy định tại Điều 35 và Điều 41 cần được rà soát để làm rõ việc xác định thẩm quyền trên cơ sở địa bàn hoạt động của dự án và mức độ tác động môi trường. Một dự án triển khai trên địa bàn một tỉnh vẫn có thể gây ảnh hưởng đến địa phương khác. Vì vậy, việc phân định thẩm quyền không nên chỉ căn cứ vào địa giới hành chính mà cần tính đến phạm vi và mức độ tác động thực tế của dự án.
Đại biểu cũng lưu ý, trong quá trình triển khai các dự án có tác động đến nhiều địa phương, việc tham vấn và phối hợp cần được tổ chức thực chất. Cần làm rõ địa phương nào chủ trì, trách nhiệm của các cơ quan Trung ương, cũng như cơ chế giải quyết khi các bên có ý kiến khác nhau. Nếu thiếu quy trình cụ thể, việc tham vấn có thể kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ xử lý công việc và hiệu quả quản lý nhà nước.

