Nhìn lại đợt 1 Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI: Từ lập pháp, "mở đường" cho phát triển
"Không chậm trễ, không để lỡ thời cơ phát triển của đất nước" là yêu cầu được Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh tại phiên khai mạc Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI. Qua 11 ngày làm việc của đợt 1, yêu cầu này không chỉ thể hiện ở tiến độ, cường độ làm việc, mà còn ở cách Quốc hội đặt ra và xác lập các vấn đề phải làm rõ đối với từng dự luật để mỗi điều luật được ban hành không chỉ giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn mà còn "mở đường" cho phát triển.

Khẩn trương nhưng không đơn giản hóa quy trình
Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất được tổ chức thành hai đợt, đợt 1 từ ngày 3/8 đến sáng 13/8, đợt 2 từ ngày 19 - 24/8. Quốc hội làm việc cả cuối tuần; khoảng thời gian giữa hai đợt được dành để các cơ quan tiếp thu, chỉnh lý các dự thảo Luật, Nghị quyết trên cơ sở ý kiến của đại biểu trước khi trình Quốc hội xem xét, quyết định. Kỳ họp có 33 nội dung, trong đó 26 nội dung về công tác xây dựng pháp luật, cùng công tác nhân sự và các nội dung quan trọng khác.
Để xử lý khối lượng công việc lớn trong thời gian ngắn, công tác chuẩn bị được thực hiện từ sớm. Tại phiên họp thứ tư của Ủy ban Thường vụ và các cuộc họp, hội nghị chuẩn bị cho Kỳ họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn liên tục yêu cầu các cơ quan trình phải gửi hồ sơ, tài liệu đúng thời hạn để các cơ quan thẩm tra và ĐBQH có đủ thời gian nghiên cứu; phối hợp chặt chẽ trong thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý, bảo đảm các dự án luật, nghị quyết có chất lượng cao nhất, khả thi, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã dành tối đa thời gian xem xét các nội dung, hồ sơ được gửi sớm đến đại biểu để nghiên cứu.

Như vậy, sự khẩn trương của Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất không phải là sự đơn giản hóa quy trình, thủ tục mà là kết quả của sự chuẩn bị kỹ lưỡng, từ sớm, từ xa để Quốc hội có thể xử lý công việc trong thời gian ngắn hơn, nhưng vẫn bảo đảm chất lượng và hiệu quả của các quyết sách. Đây cũng là cách tổ chức phù hợp với yêu cầu của một kỳ họp không thường lệ: những vấn đề cấp thiết được đưa ra xem xét kịp thời, nhưng chất lượng của quy trình lập pháp vẫn phải được bảo đảm.
Câu hỏi xuyên suốt: Luật sẽ được thực hiện thế nào?
Theo dõi các phiên thảo luận tại tổ và hội trường của Kỳ họp cho thấy hoạt động lập pháp của Quốc hội đã có những thay đổi đáng chú ý, trong đó, các ĐBQH không chỉ xem xét các dự luật ở góc độ quy định như thế nào, mà ngày càng đi sâu hơn vào khâu thực hiện với một câu hỏi xuyên suốt: Luật sẽ được thực hiện thế nào?
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường là một ví dụ. Cùng với chủ trương cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền là yêu cầu bảo đảm tính khả thi. Các ý kiến tập trung vào phương thức hậu kiểm, điều kiện về hạ tầng, nhân lực, trách nhiệm của các chủ thể và việc phân bổ nguồn lực khi thực hiện phân quyền.

Hay như với dự án Luật Phát triển đô thị, việc thành lập thành phố Quảng Ninh, thành phố Bắc Ninh, vấn đề được đặt ra không chỉ là thay đổi về tổ chức, mà phải tạo ra năng lực phát triển mới, thay đổi về chất trong quản trị, tổ chức không gian và chất lượng sống.
Với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ, các ĐBQH nhấn mạnh, tinh thần xuyên suốt phải là: quản lý chặt chẽ nhưng không làm khó doanh nghiệp và người dân; cải cách phải thực chất, không chuyển thủ tục từ hình thức này sang hình thức khác; chuyển đổi số phải giúp giảm chi phí tuân thủ, chứ không đơn thuần là số hóa những thủ tục cũ.
Ai thực hiện, thực hiện bằng nguồn lực nào và chịu trách nhiệm ra sao về kết quả? - cũng là câu hỏi xuyên suốt được các ĐBQH đặt ra khi xem xét từng điều luật cụ thể trong các dự án Luật. Đây đều là những vấn đề sẽ quyết định một quy định có thực sự đi vào cuộc sống hay không.
Phân quyền phải tính đến năng lực của cấp được giao quyền; chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm phải tính đến khả năng kiểm soát rủi ro; cắt giảm thủ tục phải tạo ra giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp và vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước.
Như vậy, điều đáng chú ý ở đợt 1 không chỉ là cường độ làm việc cao, mà còn là cách các vấn đề được đặt lên bàn nghị sự của Quốc hội ngày càng gắn với yêu cầu tổ chức thực hiện: phân cấp, phân quyền không chỉ được nhìn bằng số lượng thẩm quyền được chuyển giao mà quan trọng hơn là sau khi được phân quyền, công việc có được giải quyết nhanh hơn, trách nhiệm có rõ ràng hơn và hiệu quả quản lý có được nâng lên hay không.
Phân quyền mạnh hơn nhưng phải kiểm soát quyền lực hiệu quả hơn
Nhiều nội dung được thảo luận trong đợt 1 đặt ra yêu cầu cân bằng giữa các mục tiêu tưởng chừng đối lập nhau: cắt giảm tiền kiểm nhưng không buông lỏng quản lý; phân quyền mạnh hơn nhưng phải kiểm soát quyền lực hiệu quả hơn; tạo thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh nhưng phải bảo đảm an toàn, kỷ cương; mở rộng không gian cho đổi mới sáng tạo nhưng phải tính đến những rủi ro mới.
Thảo luận về sửa đổi Luật Phòng, chống rửa tiền cho thấy rõ yêu cầu này. Khi phương thức thanh toán và hoạt động kinh tế thay đổi nhanh, pháp luật cũng phải tính đến những rủi ro mới, vừa tạo thuận lợi cho hoạt động kinh tế hợp pháp, vừa nâng cao khả năng nhận diện, kiểm soát rủi ro.

Ở các lĩnh vực như xuất bản, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, kiến trúc, đô thị, khoa học và công nghệ..., các ĐBQH cũng tập trung yêu cầu làm rõ cách thức quy định để xử lý được những bất cập đã bộc lộ trong thực tiễn. Với xuất bản, yêu cầu là hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho chuyển đổi số, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, hội nhập, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích của các chủ thể. Với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là bãi bỏ, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục, qua đó giảm chi phí tuân thủ nhưng đồng thời phải bảo vệ tốt hơn cho người lao động và tạo động lực để phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
Những vấn đề cụ thể đó cùng dẫn tới một yêu cầu chung: sửa luật phải nhằm tháo gỡ vướng mắc nào, tạo ra thay đổi gì và có thể thực hiện ra sao.
Từ các phiên thảo luận của đợt 1, yêu cầu về tính khả thi, tính mở đường, kiến tạo phát triển trong hoạt động lập pháp được thể hiện rõ nét. Chất lượng các dự án Luật không được nhìn ở số lượng các thủ tục được cắt giảm, các điều kiện được bãi bỏ mà ở khả năng tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, giảm chi phí tuân thủ, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm, tạo điều kiện để bộ máy vận hành hiệu quả hơn.
Đây cũng là tinh thần Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đặt ra tại phiên khai mạc Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất khi đề nghị các ĐBQH nghiên cứu kỹ tài liệu, tích cực thảo luận, tranh luận về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; chủ động phát hiện những quy định còn vướng mắc trong thực tiễn và đề xuất giải pháp cụ thể, khả thi trong từng điều, khoản của các dự thảo luật, nghị quyết.
Từ góc nhìn đó, giá trị của đợt 1 không chỉ nằm ở khối lượng công việc được xử lý trong thời gian ngắn. Đáng chú ý hơn, pháp luật đang được đặt gần hơn với yêu cầu của thực tiễn và hiệu quả thực thi ngay từ nghị trường. Đây là hướng đi cần thiết để hoạt động lập pháp góp phần kiến tạo phát triển.
Với một Quốc hội chủ động, thước đo cuối cùng không nằm ở số lượng nội dung được xử lý, mà ở những thay đổi pháp luật tạo ra trong thực tiễn: bộ máy vận hành thông suốt hơn, địa phương có điều kiện chủ động hơn, người dân và doanh nghiệp giảm chi phí, các nguồn lực được khơi thông và những cơ hội phát triển mới được mở ra. Đó cũng là yêu cầu để pháp luật không chỉ theo kịp thực tiễn, mà thực sự đi trước, mở đường cho phát triển.

